Ngũ Thập Kệ Hộ Trì Giáo Pháp của Đức Phật.

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Chiến Thắng, Đức Sư Tử dòng họ Thích Ca (Śākya).

Than ôi! Nay xin nói rằng:

Mọi điều an lành và cát tường đều lấy Giáo pháp của Đức Mâu Ni làm nền tảng. Vì vậy, người con Phật cần nỗ lực thực hành để tiếp nối và hộ trì giáo pháp ấy.

Khi tinh thông việc nghe học, giảng giải, chánh kiến, thực hànhthiền định, thì trong mọi hiện tượng được thấy, được nghe, người ấy đều nhận biết và quán chiếu theo Chánh pháp.

Nếu chỉ chăm chú vào từng phần riêng lẻ của kinh điển hay chỉ thiên lệch về phương diện thực hành, mà không đầy đủ cả học lẫn hành, thì sẽ không thể cất lên âm điệu chân chính của giáo pháp.

Những lời giảng thiếu nền tảng ấy giống như các câu chuyện hoang đường về rồng, những lời đồn đại vô căn cứ, hay chiếc bình không có khả năng chứa đựng; tất cả chỉ là những lời khoa trương, ba hoa và rỗng tuếch.

Kệ về việc học và thực hành Giáo pháp

Vì mong cầu thành tựu, hãy cung kính lắng nghe Chánh pháp. Nhưng nếu thiếu ba điều: lắng nghe, quán chiếu ý nghĩa đã họcthỉnh vấn để đoạn trừ nghi hoặc, thì dù có nghe pháp cũng không mang lại lợi ích.

Nếu chỉ vì tham đắm hình sắc, âm thanh, thức ăn hoặc những lợi ích thế gian mà nghe pháp, thì việc học ấy trở nên vô nghĩa; cuối cùng chỉ hao phí cả một đời trong sự chấp trước.

Có những người tuy đã bước vào giáo pháp của Đức Phật, nhưng không đủ năng lực thực hành đúng theo ý nghĩa của giáo pháp. Chỉ ghi nhớ đôi chút ngôn từ, hiểu biết nông cạn, rồi tự cho mình là bậc thông tuệ, sinh tâm ngã mạn và tự cao.

Có người đầy đủ trí tuệ, lòng từ bi, thiền định và sự tinh tấn tu hành. Tuy nhiên, nếu không tích lũy kho tàng đa văn nơi giáo pháp của Đức Phật, thì con đường dẫn đến Nhất Thiết Trí vẫn chưa đầy đủ các chi phần cần thiết.

Có người tinh thông ngữ pháp, luận lý và các phương pháp biện luận, có thể giải thích hàng trăm bộ luận để bác bỏ mọi tranh luận trong lẫn ngoài Phật giáo. Thế nhưng họ vẫn không phân biệt được thiện và bất thiện, hữu lậu và vô lậu, cũng như con đường dẫn đến luân hồi hay Niết-bàn.

Có người thông suốt các pháp về ngũ uẩn, mười hai xứ, mười tám giới; hiểu rõ đặc tính, số lượng và mọi sự phân loại của chúng. Nhưng nếu chưa trực nhận được chân nghĩa của các pháp, thì vẫn không biết điều gì trói buộc chúng sinh trong luân hồi và điều gì đưa đến giải thoát.

Có vị Tỳ-kheo gìn giữ giới luật thanh tịnh như gìn giữ đôi mắt của chính mình, thông đạt bốn bộ Luật tạng. Thế nhưng nếu chưa nhận ra bản tâm chính là nền tảng của mọi thiện pháp và là phương thuốc tối thượng vượt lên sinh tử và tịch tĩnh, thì vẫn chưa hiểu được cốt tủy của giáo pháp.

Có người quán vô thường, tin sâu nhân quả, thấy rõ lỗi lầm của luân hồi, tu tập tâm từ và thành tâm cúng dường Tam Bảo. Tuy nhiên, nếu chưa phát huy trí tuệ chân thật, thì vẫn chưa biết cách nhanh chóng vượt qua biển lớn sinh tử vô tận.

Có người truyền dạy Mật điển, ban quán đỉnh, kiến lập đàn tràng Mạn-đà-la, truyền chân ngôn, ấn pháp, thực hiện các nghi thức hỏa cúng và nhiều pháp sự khác; mỗi ngày quán tưởng hàng trăm vị bổn tôn nơi thân mình. Nhưng nếu chưa hiểu rõ nguyên nhân thật sự của luân hồi, thì tất cả vẫn chưa chạm đến cốt lõi của con đường giải thoát.

Có người đầy đủ trí tuệ, lòng tin, tinh thông kinh luận nhờ giáo điển và lý luận. Nhưng nếu không có khẩu quyết (man ngag) từ bậc Đạo sư chân chính, thì dù tha thiết cầu mong lợi ích và an lạc, họ vẫn không biết phải đi về đâu, tu như thế nào và nên thực hành điều gì.

Những người học ít và sự thiên chấp

Lại nữa, có những người học hỏi ít ỏi, trí hiểu nông cạn, chỉ chấp giữ quan điểm của riêng mình. Vì không biết, không thấy được những pháp môn khác, nên sinh tâm bài bác và phỉ báng.

Do bị chi phối bởi tham chấp, sân hận và si mê, nên những việc họ tưởng là thiện lại trở thành nghiệp bất thiện và tội lỗi.

Họ tự xưng là bậc học giả, nhưng thực chất không có kết quả chân thật. Vì mê lầm mà tự cho mình là người thông tuệ. Do không hiểu đúng chân lý và không thực hành theo Chánh pháp, họ sẽ phải chịu đau khổ lâu dài trong những cảnh giới không có cơ hội gặp Phật pháp.


Thế nào là một bậc học giả chân chính?

Người dùng kinh điển (lung)lý luận (rig pa) để xác lập điều cần chứng minh; hiểu rõ hai chân lý (Tục đế và Chân đế), tích lũy hai tư lương (phước đức và trí tuệ), thành tựu hai lợi ích (lợi mình và lợi người), thông đạt ba thân Phật cùng mối liên hệ nhân quả của chúng, và an trụ nơi Trung đạo vượt ngoài mọi cực đoan — người ấy mới thật là bậc học giả.

Người nhận biết bằng lý trí chân chính rằng bản tánh tối hậu của mọi pháp chính là điều mà chư Phật ba đời đều tuyên thuyết, và thấy rằng đối tượng của thiền định cùng chân lý ấy vốn không hai — người ấy mới thật là bậc học giả.

Người hiểu rằng dòng khổ đau vô tận của luân hồi từ vô thủy đến nay không thể chấm dứt chỉ bằng các phương tiện thế gian; chỉ khi đoạn tận nguyên nhân sinh khởi của khổ đau mới có thể giải thoát — người ấy mới thật là bậc học giả.

Người xác tín rằng mọi giáo pháp do trí tuệ và đại bi của chư Phật tuyên thuyết đều không mâu thuẫn, đều chân thật và mang lại lợi ích; đồng thời biết quy tụ tất cả giáo pháp ấy thành các chi phần của con đường dẫn đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác — người ấy mới thật là bậc học giả.

Người thấy quyến thuộc đông đảo như mây tụ, thân thể và của cải như bọt nước mong manh; nhưng biết dùng tất cả những điều ấy để tạo nên công đức chân thật mang lại hạnh phúc cho vô lượng đời sau — người ấy mới thật là bậc học giả.

Người luôn dùng trí tuệ để quán xét lợi ích của mình và của người, phát khởi tâm thiện rộng lớn, dấn thân vào những việc thiện có năng lực lớn; và biết chuyển hóa mọi hành động của thân, khẩu, ý thành nhân duyên của con đường giác ngộ viên mãn — người ấy mới thật là bậc học giả.

Phương tiện và Trí tuệ – Cốt lõi của Giáo pháp

Bậc trí giả sau khi khảo sát thấu đáo giáo pháp của Đức Phật sẽ nhận ra rằng, đối với ba hạng căn cơ của chúng sinh, con đường đưa đến thành tựu đều khởi nguồn từ tín tâm, trí tuệ và lòng đại bi. Từ đó phát sinh sự hợp nhất bất khả phân giữa phương tiện và trí tuệ.

Trí tuệ là trí tuệ an trụ nơi Trung đạo, nương vào Hai Chân Lý mà đoạn trừ cả hai cực đoan thường và đoạn. Chính nhận thức ấy mới là chánh lượng, là trí thấy đúng như thật.

Phương tiện là quy y Tam Bảo, phát khởi Bồ-đề tâm, thọ trì các giới nguyện; và toàn bộ những điều ấy được trình bày trong các tạng giáo về giới luật và hạnh Bồ-tát.

Trong các giáo pháp ấy đều chỉ bày rõ:

  • những lỗi lầm của luân hồi và cả sự an trụ nơi Niết-bàn chấp tịch,
  • những công đức cần thành tựu,
  • những điều thiện cần thực hành,
  • những điều bất thiện cần từ bỏ,
  • cùng mọi giai đoạn của con đường tu tập.

Đó chính là ý nghĩa của A-tỳ-đạt-ma (Vi Diệu Pháp).

Vì vậy, đối với người có trí, mọi giáo pháp do Đức Phật tuyên thuyết, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều là những chi phần dẫn đến Vô thượng Bồ-đề; không có giáo pháp nào là thừa hay vô ích.

Những quan điểm sai lệch cần tránh

Người tuy quy y Tam Bảo, giữ giới và tránh điều ác, nhưng vẫn chấp thật vào ngã, pháp, ba thời, hay cho rằng các pháp có tự tính cố hữu... thì tuy ở trong Phật giáo nhưng vẫn còn mang kiến chấp của ngoại đạo trong nội giáo.

Lại có người xem tánh Không như một thực thể riêng biệt, hoặc hiểu sai về phủ định và khẳng định, rồi chấp vào những khái niệm ấy như chân lý cứu cánh. Những kiến giải đó chỉ là bóng dáng của trí tuệ, chứ chưa phải trí tuệ chân thật.


Những việc có vẻ là Phật pháp nhưng không phải Chánh pháp

Những việc như:

  • cúng dường mà làm tổn hại người khác,
  • bố thí, trì giới hay thiền định chỉ vì sợ hãi, mong cầu danh lợi hoặc do tham, sân, si thúc đẩy,

tất cả tuy mang hình thức thiện pháp nhưng chỉ là Phật pháp trên bề ngoài, chưa phải Chánh pháp chân thật.

Người thiếu trí lại thực hành những hạnh khổ hạnh không đúng căn cơ, giáo hóa những người chưa đủ khả năng tiếp nhận, hoặc làm những việc gây tổn hại cho bậc tôn trưởng; tất cả cũng chỉ là hình thức giống Phật pháp, không phải con đường đúng đắn.


Bồ-đề tâm và trí tuệ Không tánh

Dù không còn tham đắm mọi an vui thế gian, phát tâm thành Phật để cứu độ tất cả chúng sinh, trải qua vô số kiếp chịu đựng gian khổ...

...nhưng nếu vẫn còn chấp vào ba luân (người làm, việc làm và đối tượng được làm) là thật có, thì vẫn chưa thể vượt khỏi sinh tử.


Kim Cương thừa không thể tách rời giới luật và truyền thừa

Nếu không giữ nghi quỹ, không thanh tịnh giới nguyện Mật thừa, chỉ chạy theo ngôn từ hoặc nương tựa nơi vị thầy không chân chính, thì dù thực hành những giáo pháp Kim Cương thừa thâm sâu cũng sẽ trở thành nguyên nhân đưa cả mình lẫn người đến tổn hại trong đời này và nhiều đời sau.


Thiền định và Du-già nếu thiếu trí tuệ

Dù quán thân bất tịnh, quán khổ, hay quán thân tâm là bổn tôn và trí tuệ; dù tu các pháp Nội hỏa (Tummo), mạch (nāḍī), khí (prāṇa)giọt tinh túy (bindu)...

...nếu chưa có trí tuệ đoạn tận vô minh thì tất cả những pháp ấy chưa phải là con đường thiêu đốt hạt giống của luân hồi.


Tánh Không phải đi đôi với Phương tiện

Ngay cả khi đã thuần thục thiền định về tánh Không, nếu thiếu phương tiện thiện xảo, thiếu Bồ-đề tâm và các hạnh lợi tha, thì dù thân ngũ uẩn này tan hoại cũng không thể thành tựu quả vị Phật viên mãn, vốn đầy đủ vô lượng công đức như viên ngọc như ý.

Kết luận

Tóm lại, mọi thiền định, mọi sự giải thoát, các tầng định thuộc cõi Sắc và cõi Vô Sắc, cùng tất cả các trạng thái tam-muội, nếu thiếu hai phương diện của Bồ-đề tâm thì những công đức đạt được cũng chỉ như giấc mộng hoặc lời nguyện suông, không thể đưa đến quả vị giác ngộ viên mãn.

Đức Thế Tôn đã chỉ bày việc thuyết pháp, lắng nghe Chánh pháp, bố thí, trì giới cùng vô số thiện hạnh khác nhằm đem lại lợi ích cho đời sau. Thế nhưng, phần lớn con người trong thế gian lại chỉ sử dụng những pháp ấy để mưu cầu lợi ích cho cuộc đời hiện tại.

Giáo pháp nhiệm mầu của Đức Phật giống như ngọn đèn báu soi sáng thế gian. Nhưng đối với những ai không có lòng tin, giáo pháp ấy hoàn toàn không mang lại lợi ích, cũng như viên ngọc quý đối với người mù chẳng khác gì một hòn đá vô tri.

Trong giáo pháp của tất cả chư Phật ba đời, nếu còn bị chi phối bởi phiền não, còn tạo nghiệp bất thiện, và thiếu tín tâm, trí tuệ cùng lòng đại bi, thì không thể trở thành bậc Pháp Vương, người thành tựu mọi điều an lành.

Vì vậy, cần nhận ra rằng bản tánh chân thật của mọi pháp vốn không thể nắm bắt ở bất cứ đâu; cũng không nên bám chấp vào bất kỳ đối tượng thiền quán nào như là thực thể cố định. Đó chính là con đường thiền định tối thượng của nghĩa cứu cánh, giúp đoạn trừ tận gốc mọi vọng tưởng và mê lầm.

Thân Phật (Sắc thân) xuất hiện để lợi ích tất cả chúng sinh là kết quả của Bồ-đề tâm vô thượng, hợp nhất với trí tuệ, được tích lũy từ vô lượng công đức như bố thí, trì giới và các ba-la-mật khác, cùng với những đại nguyện vì lợi ích hữu tình và sự chín muồi của căn cơ chúng sinh.

Người nào đối với Chánh pháp, chúng sinhchư Phật đều không sinh tâm chấp thủ; đồng thời đầy đủ trí tuệ, đại bitín tâm, lại tinh tấn thực hành bằng những phương tiện thiện xảo, thì người ấy sẽ an nhiên và nhanh chóng tiến đến quả vị Phật viên mãn.

Lời kết

Nhờ những khẩu quyết được truyền trao trên nền tảng kinh điểnchánh lý, hãy hiểu rằng bốn pháp sau đây bao hàm trọn vẹn mọi chi phần của con đường giác ngộ của chư Phật:

  • lấy đại bi làm nền tảng,
  • lấy hạnh lợi tha làm sự thực hành,
  • lấy chánh kiến làm đối tượng quán tu và an trụ,
  • đem mọi thiện hạnh hồi hướng đến giác ngộ viên mãn.

Hãy biết rằng bốn pháp ấy chính là tinh yếu của toàn bộ Phật đạo.

Hãy từ bỏ tâm thiên chấp, khảo sát toàn diện mọi đối tượng cần nhận biết, rồi xác định đâu là chân nghĩa. Kết hợp hài hòa giữa ý nghĩa chân thật, kinh điểnlý luận, đó chính là phương pháp tu học đặc biệt mà ta luôn thực hành.

Đối với mọi vấn đề, trước hết cần phân biệt điều gì nên bác bỏ, điều gì nên xác lập và điều gì cần đoạn trừ. Sau đó nhận rõ mục đích của từng hoàn cảnh, hiểu rõ từng phương diện sai biệt, cùng mối quan hệ nhân quả và sự tương quan giữa chúng. Đó cũng chính là phương pháp tu học đặc biệt mà ta luôn gìn giữ.

Khi dùng chánh lượng để xác lập lập trường của mình, đừng chỉ cố bảo vệ quan điểm bản thân. Trước hết hãy nhận hiểu đầy đủ lập trường của người khác, rồi khảo sát kỹ những điểm sai biệt; nhờ vậy mọi phân biệt và chấp trước trong tâm sẽ dần được đoạn trừ. Đó là phương pháp quán chiếu đặc biệt mà ta luôn thực hành.

Đừng vì tham, sân hay si mà khăng khăng cho rằng: "Chỉ pháp này mới đúng." Cũng đừng vì thế mà bài bác giáo pháp hay con người khác. Hãy giữ vững niềm tin nơi Chánh pháp của chính mình và tinh tấn thực hành theo đó. Đây chính là phương pháp hành trì đặc biệt mà ta luôn gìn giữ.

Phẩm hạnh của người hành trì Chánh pháp

Ta ít nói, chỉ nói những lời hòa hợp và mang lại lợi ích.

Ta xem việc cúng dường, bố thí, tụng đọc kinh điển và tinh tấn thực hành thiện pháp là niềm vui chân thật.

Ta luôn gìn giữ lòng hổ thẹn, nuôi dưỡng trí tuệ, đại bi và chí nguyện hướng đến điều cao thượng nhất.

Chính vì sống như vậy nên ta không giống với lối sống của người đời.


Đối với những người đã bước vào Phật pháp hoặc đang sống gần gũi với Giáo pháp,

ta không vì những lỗi lầm của họ mà sinh tâm chỉ trích hay xa lánh.

Đối với những lỗi nhỏ thì không cố chấp bới móc;

khi bị người khác làm tổn hại, ta thực hành nhẫn nhục và bao dung.

Bởi cách sống ấy nên ta không giống với người đời.


Ta luôn quán xét con người và mọi sự việc dựa trên Chánh pháp,

xem xét lợi ích và tác hại,

phân biệt thiện và bất thiện,

nhận rõ nghiệp báo dù vi tế hay thô trọng,

không chỉ nhìn lợi ích trước mắt mà còn xét đến hậu quả của đời sau.

Bởi cách nhìn ấy nên ta không giống với người đời.


Ta không ham tụ tập đông đúc,

không thích tranh cãi hay hơn thua.

Ta không chấp trước vào quê hương, nơi cư trú hay người phục vụ mình.

Đối với tất cả mọi người,

không vì thân quen mà thiên vị,

không vì oán ghét mà xa lánh.

Bởi cách sống ấy nên ta không giống với người đời.

 

Giáo pháp của Đức Phật giống như ngọn đèn quý báu soi sáng thế gian.

Nhưng vì có quá nhiều điều chỉ mang dáng vẻ của Phật pháp mà không phải Chánh pháp, nên nếu tình trạng ấy tiếp diễn, thì không bao lâu nữa ngọn đèn quý báu này sẽ dần lụi tắt trên thế gian.

Vì vậy, những người có trí tuệ và biết quán xét cần phải tinh tấn hộ trì và làm hưng thịnh Giáo pháp.

Tuy luận thư này chỉ trình bày những tinh yếu của Chánh pháp, nhưng điều được nói đến lại là những điều mà phần lớn người đời khó có thể nhận biết.

Tỳ-kheo Sư Tử (Sengé) chỉ đơn giản thuật lại kinh nghiệm tu tập và con đường hành trì của chính mình để gửi đến những con người đang sống trong thời kỳ mạt pháp đầy cấu nhiễm.

Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày năm nội dung:

  1. Nền tảng của Giáo pháp.
  2. Những phương diện làm cho Giáo pháp được hưng thịnh.
  3. Phân biệt điều gì là Chánh pháp và điều gì không phải Chánh pháp.
  4. Phân biệt điều gì là đúng và điều gì là sai trên con đường tu tập.
  5. Trình bày phương pháp hành trì của chính mình.

Năm phần ấy chính là sự hộ trì và làm thanh tịnh Giáo pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni.

 

Ngũ Thập Kệ Hộ Trì Giáo Pháp của Đức Phật do Tỳ-kheo Tinh Tấn Sư Tử (Śākya Bhikṣu Vīryasiṃha / Brtson 'grus Seng ge) trước tác.

 

Viết bình luận

Bình luận

Hiện tại bài viết này chưa có bình luận.

Bài viết liên quan:

Thủ ấn trong nghi thức tranh biện Phật học Tây Tạng và ý nghĩa biểu trưng của chúng

Trong khi tranh biện, người tranh biện hơi cúi đầu về phía trước. Cử chỉ này biểu thị sự nhận thức rằng nay mình được thọ hưởng và sử dụng một cách tự tại Diệu Pháp sâu xa và quảng đại, kho tàng Chánh pháp vô cùng trân quý mà ngay cả trải qua vô số trăm triệu đại kiếp cũng khó có được cơ duyên chỉ để nghe đến danh xưng của nó. Đồng thời, hành giả ý thức rằng tất cả nhân duyên thù thắng ấy đều xuất phát từ ân đức của vị Đạo sư. Tiếp đó, xâu...

Mười lời thệ nguyện trong tâm của Khedrup Je

ngài Khedrup Je Gelek Pelzang (Mkhas grub dGe legs dpal bzang) – một trong hai đại đệ tử chính của  Ngài Je Tsongkhapa. Mười lời thệ nguyện trong tâm của Khedrup Je Tác giả: Đại luận sư Khedrup Gelek Pelzang Kính lễ Đức Đạo sư Văn Thù (Namo Guru Mañjughoṣāya). Con chí thành đảnh lễ và quy y nơi Đạo sư, chư Phật và chư Đại Bồ Tát – những bậc đã viên mãn sức mạnh của đại bi và năng lực của các đại nguyện, đầy đủ tuệ nhãn vô ngại, thấy biết tất cả không chướng ngăn. Nguyện nhờ oai lực gia trì...

Lời Giáo Huấn Dài của Potowa

Kính lễ chư Thượng sư của ba đời. Trong đại dương mênh mông của khổ đau luân hồi nơi ba cõi này, từ vô thủy đến nay, ta cứ mãi trôi lăn. Điều ấy là do không nhận ra bản tâm của chính mình. Không nhận ra bản tâm là do bị các chướng ngại che lấp. Các chướng ngại ấy tồn tại là do không biết tích lũy hai tư lương (phước đức và trí tuệ). Không biết tích lũy tư lương là do không có lòng tin (đức tin). Không có lòng tin là do không nhớ nghĩ đến cái chết và vô thường. Nay,...

"Bát Cát Tường Thượng Phẩm" (Tám vật phẩm cát tường tối thắng).

Trong Nghi quỹ Mạn-đà-la Cửu Đỉnh (Tshug-gu'i Dkyil Chog) có dạy rằng: Hạt cải trắng thành tựu oai lực và năng lực.Cỏ durva thanh tịnh tối thượng.Chu sa có công năng thu nhiếp mọi công đức.Giwang là tinh túy tối thượng của các dược chất.Chiếc gương làm hiển bày rõ mọi ý nghĩa.Ốc trắng thù thắng tuyên dương âm thanh Chánh pháp.Thực phẩm tối thắng (sữa chua) làm tăng thêm dung sắc và oai quang.Quả Bilva làm cho mọi quả lành được chín muồi.Nguyện tất cả những vật phẩm ấy trở thành nhân duyên viên mãn mọi sự thọ dụng. Như lời...

Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni

Đảnh lễ Đức Phật Đảnh Tôn Thắng (Uṣṇīṣavijayā) Chỉ cần nghe danh hiệu của Ngài, Thì cái chết phi thời được dập tắt; Mọi tội chướng đều được thanh tịnh; Con xin đảnh lễ Đức Phật Đảnh Tôn Thắng. Thuở ấy, tại cõi trời Tam Thập Tam Thiên (Trāyastriṃśa), trước pháp tòa của chư Thiên, có một vị thiên tử tên là Lodrö Tenpa (Bồ-đề dịch nghĩa: Trí Kiên hay Trí Tuệ Kiên Cố). Vị thiên tử ấy đang hưởng thọ mọi dục lạc của cõi trời, sống trong niềm hoan hỷ và an vui. Một đêm nọ, bỗng nghe một âm thanh vô cùng đáng sợ...
Luận Giải “Luyện Tâm Bát Đoạn” – Geshe Ngawang Dhargyey

Luận Giải “Luyện Tâm Bát Đoạn” – Geshe Ngawang Dhargyey

Bối Cảnh Bản văn này được sáng tác trong tám vần kệ của Geshe Langri Tangpa (Langtangpa). Giáo lý này có thể được truy nguyên về chư đạo sư Kadam. Geshe Potowa, một hóa thân của Đức Văn Thù, đã trao truyền nó cho Geshe Sharawa, rồi đến Geshe Langri Tangpa. Hai vị này được gọi là mặt trời và mặt trăng của các đệ tử Kadam.Đó là truyền thống để giải thích tiểu sử ngắn gọn của tác giả, để phát triển tín tâm cho đệ tử, và biểu thị nguồn giáo lý xác thực, nhưng không có thời gian...

Giới thiệu về hai Đại Mandala trong Phật giáo Mật thừa

Mandala, là một hình vẽ biểu thị vũ trụ trong cái nhìn của một bậc giác ngộ. Manda nghĩ là "tinh túy", la là "chứa đựng”. Trong tiếng Phạn, mandala có nghĩa là một trung tâm. Có thể coi mandala là một hình vũ trụ thu nhỏ. "Mandala" dịch nghĩa theo chữ Hán là "luân viên cụ túc" nghĩa là vòng tròn đầy đủ. Theo ý nghĩa thực tiễn thì mandala là đàn tràng để hành giả bày các lễ vật hay pháp khí để thực hành các nghi thức tu tập, cầu nguyện. Với các hành giả Đại thừa,...
Pháp Khí Mật Tông - Bảo Liên. Cung cấp bởi Sapo.
Lên đầu trang
Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông
Trang chủ Danh mục Liên hệ Tài khoản Giỏ hàng