Lời Giáo Huấn Dài của Potowa

Kính lễ chư Thượng sư của ba đời.

Trong đại dương mênh mông của khổ đau luân hồi nơi ba cõi này, từ vô thủy đến nay, ta cứ mãi trôi lăn.

Điều ấy là do không nhận ra bản tâm của chính mình.

Không nhận ra bản tâm là do bị các chướng ngại che lấp.

Các chướng ngại ấy tồn tại là do không biết tích lũy hai tư lương (phước đức và trí tuệ).

Không biết tích lũy tư lương là do không có lòng tin (đức tin).

Không có lòng tin là do không nhớ nghĩ đến cái chết và vô thường.

Nay, vì kinh sợ những khổ đau của luân hồi, mong cầu đạt được giải thoátquả vị Nhất thiết trí (Toàn giác), nên nhất định phải chứng ngộ bản tâm của chính mình.

Muốn chứng ngộ bản tâm thì trước hết phải thanh tịnh các chướng ngại.

Muốn tịnh hóa các chướng ngại thì cần phải tích lũy hai tư lương. Muốn tích lũy hai tư lương thì cần có đức tin. Đức tin chân thật ấy sẽ không thể sinh khởi nếu không thường xuyên nhớ nghĩ đến cái chết.

Khi thật sự quán niệm về cái chết, sẽ tự thấy rằng mọi việc không hợp với Chánh pháp đều hoàn toàn vô ích. Lúc ấy tâm sẽ không còn hướng về bất kỳ sự viên mãn nào của thế gian.

Bấy giờ, sự tham luyến đối với của cải và vật dụng sẽ từ tận đáy lòng mà tiêu mất. Sự chấp trước vào thân quyến cũng thật sự đảo ngược, đến nỗi không còn cố giữ thể diện trước bất kỳ ai.

Đừng chuẩn bị cho tuổi già.

Bởi vì không có ý nghĩ rằng mình sẽ còn ở mãi đến già.

Đối với những chuyện như tuổi già sướng hay khổ; địa vị cao hay thấp trong mắt người đời; cơm áo đủ hay thiếu; người khác chê bai hay không chê bai; người khác sẽ đối xử với mình như thế nào; hoặc mọi điều thuận hay nghịch trong đời này – đối với tất cả những điều ấy, cần có một tâm hoàn toàn không còn bận lòng.

Hãy nghĩ:

"Dù đời này có trôi qua thế nào thì cũng mặc nó trôi qua."

Rồi dứt khoát buông bỏ việc đặt nặng đời này.

Một mũi tên không thể bắn hạ hai con nai.

Một con chó không thể đuổi bắt cùng lúc hai con linh dương.

Một cây kim có hai đầu thì không thể khâu vá.

Một chân bước lên, một chân bước xuống thì chẳng bao giờ đến được nơi mình muốn đến.

Cũng vậy, không thể đồng thời thành tựu cả đời này lẫn đời sau.

Trong hai điều ấy, đời sau quan trọng hơn rất nhiều, vì vậy phải thực hành Chánh pháp chân thật.

Nếu thật sự nhớ nghĩ đến cái chết thì mọi tài sản và sự vật sẽ trở nên giống như một bó cỏ đặt trước mặt thú dữ – hoàn toàn không còn giá trị gì.

Nếu thật sự sinh tâm chán ngán khổ đau của luân hồi thì ý nghĩ:

"Việc này hoàn toàn không đáng để theo đuổi."

sẽ liên tục khởi lên.

Khi ấy, tâm sẽ thật sự quay lưng với những toan tính cho đời này và trở nên hoàn toàn không còn đồng điệu với cách nghĩ của người đời.

Thấy mọi người chỉ mãi lo tính cách làm sao để đời này được thuận lợi và tốt đẹp, ta sẽ tự hỏi:

"Không biết trong lòng những người này đang nghĩ điều gì?"

Vì thương mình, họ sẽ khuyên:

"Đừng sống như thế. Sau này về già sẽ khổ vì phiền não. Cũng nên tích góp một ít của cải để làm trợ duyên cho việc tu tập. Phải tự giương cung rồi tự bắn tên của mình."

Sẽ có rất nhiều người khuyên như vậy.

Nhưng đối với tất cả những lời ấy, đừng nghĩ:

"Họ rất tốt với mình. Lời khuyên ấy đúng. Họ thật lòng thương mình."

Ngược lại, sẽ chỉ cảm thấy buồn và hổ thẹn mà nghĩ rằng:

"Tất cả những người này đều chưa từng thật sự suy nghĩ về Chánh pháp."

Nếu con người không phải chết thì nói như vậy còn có lý.

Nhưng ai cũng chắc chắn sẽ phải chết.

Chỉ là không biết chết lúc nào.

Nếu đang mải tích lũy của cải mà chết giữa chừng thì sẽ làm sao?

Giả sử chết rồi chắc chắn lại được sinh làm người thì khi ấy tu hành cũng chưa muộn.

Nhưng sau khi chết sẽ sinh về đâu, đi về đâu thì hoàn toàn không biết.

Vì thế hãy quyết định rằng:

  • Vì chắc chắn sẽ chết nên phải tu Chánh pháp.
  • Vì không biết lúc nào sẽ chết nên không được trì hoãn việc tu.
  • Vì đến lúc chết chắc chắn mọi thứ đều phải bỏ lại nên không được chấp luyến bất cứ điều gì.

Lại nữa, hãy xem mình như một lữ khách đang trở về quê hương.

Hãy xem mọi dục lạc của thế gian giống như đồ trang sức mà người ta đeo cho kẻ sắp bị dẫn đi hành hình.

Hãy xem chúng như một mũi tên đã cắm trúng chỗ hiểm.

Đó chính là điều cần phải quán tưởng.

"Đến lúc phải một mình rời khỏi thế gian này,
Người mình thương hay người mình ghét, tất cả đều chẳng thể đi theo."

Đại thành tựu giả Potowa Rinchen Sal

Phần 1

Đảnh lễ chư Đạo sư của ba đời.

Trong biển lớn khổ đau của luân hồi nơi ba cõi này, từ vô thủy đến nay, chúng ta cứ mãi lưu chuyển. Nguyên nhân là vì không nhận ra chính tự tâm mình.

Không nhận ra tâm là do các chướng ngại che lấp.

Các chướng ngại chưa được thanh tịnh là vì không biết tích lũy hai tư lương.

Không biết tích lũy tư lương là vì thiếu lòng tín tâm.

Không có tín tâm chân thật là vì chưa thường xuyên quán niệm đến cái chết.

Vì vậy, nay nếu thật sự sợ hãi nỗi khổ luân hồi, mong cầu giải thoát và đạt đến Nhất thiết trí, thì nhất định phải nhận ra bản tâm của chính mình.

Muốn nhận ra bản tâm thì phải thanh tịnh mọi chướng ngại.

Muốn thanh tịnh chướng ngại thì phải tích lũy tư lương.

Muốn tích lũy tư lương thì phải có tín tâm.

Muốn phát sinh tín tâm chân thật thì trước hết phải luôn ghi nhớ đến cái chết.

Nếu thật sự quán niệm về cái chết, sẽ hiểu rằng mọi việc không phù hợp với Chánh pháp đều hoàn toàn vô ích.

Đến lúc ấy, đối với mọi sự viên mãn của thế gian, tâm sẽ không còn ham muốn nữa.

Lúc đó, sự chấp trước đối với của cải vật chất sẽ tự nhiên tan biến.

Sự luyến ái đối với thân quyến cũng sẽ dần dần được buông xả, đến mức không còn vì giữ thể diện với bất kỳ ai mà đánh mất Chánh pháp.

Đừng lo toan cho tuổi già.

Bởi chẳng có gì bảo đảm rằng mình sẽ sống đến tuổi già.

Vì vậy, đối với những điều như:

  • tuổi già sẽ sung sướng hay khổ sở,
  • người khác xem trọng hay khinh thường,
  • đủ ăn đủ mặc hay không,
  • bị người đời chê bai hay ca ngợi,
  • người khác sẽ đối xử với mình thế nào,

tất cả những điều ấy đều không đáng để tâm bận lòng.

Chỉ nên nghĩ:

"Dù cuộc đời này diễn ra thế nào thì cũng cứ để nó như thế."

Hãy dứt khoát buông bỏ mọi sự bám chấp vào đời này.

Một mũi tên không thể bắn hạ hai con nai.

Một con chó không thể cùng lúc bắt được hai con thỏ.

Một cây kim có hai mũi thì không thể khâu vá.

Hai chân bước ngược hai hướng thì không thể đến được nơi mong muốn.

Cũng vậy, không thể cùng lúc thành tựu cả đời này và đời sau.

Trong hai điều ấy, đời sau mới là điều hệ trọng hơn cả.

Bởi vậy, phải thực hành Chánh pháp một cách chân thật.

Nếu thật sự quán niệm về cái chết, thì mọi tài sản trên đời đều trở nên giống như một bó cỏ đặt trước miệng thú dữ—hoàn toàn không còn đáng để lưu luyến.

Khi thật sự chán ngán luân hồi từ tận đáy lòng, ý nghĩ:

"Không có gì trong vòng luân hồi này đáng để theo đuổi."

sẽ liên tục khởi lên.

Lúc ấy, tâm sẽ hoàn toàn quay lưng với những mục tiêu của đời này.

Tâm mình sẽ khác hẳn với tâm của người thế gian.

Thấy mọi người chỉ mải mê tìm cách làm cho đời này tốt đẹp hơn, người tu sẽ tự hỏi:

"Rốt cuộc họ đang nghĩ gì trong lòng?"

Có nhiều người vì thương mình mà khuyên:

"Đừng sống như thế.
Đến tuổi già sẽ khổ.
Hãy tích góp chút tài sản, để sau này còn có chỗ nương tựa.
Muốn bắn tên thì phải tự giương cung."

Những lời khuyên như vậy sẽ rất nhiều.

Nhưng đừng nghĩ:

"Họ nói đúng.
Họ thật lòng thương mình."

Ngược lại, hãy cảm thấy xót xa.

Bởi vì họ vẫn chưa từng suy nghĩ đến Chánh pháp.

Nếu con người không chết thì những lời ấy còn có lý.

Nhưng cái chết chắc chắn sẽ đến.

Chỉ không biết nó đến lúc nào.

Nếu đang mải tích góp tài sản mà chết giữa chừng thì sẽ làm sao?

Cho dù sau khi chết lại được sinh làm người, thì vẫn còn có thể tu tập.

Nhưng đâu ai biết sau khi chết sẽ sinh về đâu.

Vì thế, hãy quyết định:

  • Vì chắc chắn sẽ chết nên nhất định phải tu Pháp.
  • Vì không biết lúc nào sẽ chết nên không được trì hoãn việc tu.
  • Vì khi chết không mang theo được thứ gì nên không được chấp trước vào bất cứ điều gì.

Đại thành tựu giả Potowa Rinchen Sal

Phần 2

Lại nữa, hãy quán tưởng mình giống như một người lữ khách đang trở về quê hương.

Mọi dục lạc của thế gian đều giống như những món trang sức được đeo lên cho một người sắp bị dẫn đi hành hình.

Chúng chỉ làm đẹp trong chốc lát, nhưng không thể cứu người ấy khỏi cái chết.

Cho nên, mọi vinh hoa phú quý của đời này cũng đều như vậy.

Chúng không có tự tánh bền chắc.

Chúng không thể theo ta sau khi chết.

Nếu có thể nghĩ được như thế từ tận đáy lòng, thì sẽ không còn xem những thứ ấy là quan trọng nữa.

Người tu chân chính phải luôn tự nhắc mình:

"Ta sẽ phải ra đi một mình."

Khi phải ra đi một mình,

thì dù là người mình thương,

hay người mình ghét,

đều không ai có thể cùng đi.

Cha mẹ không thể đi thay.

Con cái không thể đi thay.

Bạn bè không thể đi thay.

Đệ tử không thể đi thay.

Quyến thuộc không thể đi thay.

Ngay cả thân thể mà ta gìn giữ suốt cả đời này,

đến lúc ấy cũng sẽ bỏ lại phía sau.

Chỉ có nghiệp thiện và nghiệp ác

luôn theo sát như chiếc bóng.

Cho nên,

điều thật sự cần chuẩn bị

không phải là của cải,

mà là thiện nghiệp.

Không phải là danh tiếng,

mà là công đức.

Không phải là địa vị,

mà là Chánh pháp.


Có người suốt ngày bận rộn vì tiền bạc.

Có người cả đời chỉ lo xây dựng nhà cửa.

Có người chỉ chăm chăm tích lũy tài sản.

Có người chỉ mải lo cho con cháu.

Có người chỉ mong người khác khen ngợi mình.

Có người chỉ sợ người đời chê cười.

Nhưng khi thần chết đến,

không ai có thể nói:

"Xin hãy đợi tôi thêm vài ngày."

Không ai có thể dùng tiền bạc để chuộc mạng.

Không ai có thể dùng quyền thế để chống lại vô thường.

Không ai có thể dùng người thân để thay mình chết.

Tất cả đều phải đi một mình.


Vì thế,

người có trí

ngày đêm đều chuẩn bị cho chuyến đi ấy.

Người ngu

thì chỉ chuẩn bị cho cuộc sống vài chục năm trước mắt.

Người trí

chuẩn bị cho vô lượng đời sau.

Người ngu

chỉ chuẩn bị cho một đời ngắn ngủi này.

Cho nên,

nếu hôm nay còn có thể nghe Chánh pháp,

còn có thể suy nghĩ,

còn có thể thực hành,

thì đó là điều vô cùng hiếm có.

Đừng để thời gian trôi qua vô ích.


Nếu hôm nay không tu,

ngày mai cũng sẽ lấy lý do khác để trì hoãn.

Nếu năm nay không tu,

năm sau cũng sẽ trì hoãn như vậy.

Cứ thế,

đến lúc già yếu,

thân thể không còn nghe theo ý muốn.

Trí nhớ suy giảm.

Tinh thần mỏi mệt.

Muốn tu cũng không còn đủ sức.

Rồi bệnh tật kéo đến.

Sau cùng là cái chết.

Lúc ấy,

ngoảnh đầu nhìn lại,

cả đời chỉ toàn bận rộn vì những việc không thể mang theo.

Còn Chánh pháp,

vẫn chưa từng thật sự thực hành.

Đó là điều đáng tiếc nhất.


Vì vậy,

đừng nghĩ:

"Đợi mọi việc ổn định rồi sẽ tu."

Đừng nghĩ:

"Đợi có nhiều tiền hơn rồi sẽ tu."

Đừng nghĩ:

"Đợi nghỉ hưu rồi sẽ tu."

Đừng nghĩ:

"Đợi con cái trưởng thành rồi sẽ tu."

Bởi vì cái chết

không hề chờ đợi bất kỳ ai.

Nó không hẹn trước.

Không báo trước.

Không lựa chọn già hay trẻ.

Không phân biệt giàu hay nghèo.

Không phân biệt sang hay hèn.

Một khi nhân duyên chấm dứt,

thì phải ra đi ngay lập tức.

Cho nên,

người khôn ngoan

là người bắt đầu tu ngay từ hôm nay.

Đến lúc lâm chung, tất cả tài sản đều phải bỏ lại; chỉ có Chánh pháp và nghiệp thiện mới theo mình. Vì vậy, đừng dốc sức vì của cải, mà hãy dốc sức tu tập Chánh pháp.

 

"Vì vậy, điều quan trọng là phải dốc hết tâm lực để thực hành Chánh pháp đúng như Pháp.

Một vị tăng chân chính là người biết sợ cái chết; là người tinh tấn, không mưu cầu lợi ích cho đời này; là người có trí tuệ, đặt trọn niềm tin nơi Chánh pháp.

Vì sao?

Bởi mục đích của chúng ta là thoát khỏi luân hồi, là thành tựu quả vị Phật viên mãn. Người có lòng tin nơi Đức Phật thì phải lấy Chánh pháp làm mục tiêu.

Nếu chỉ tự hào mình là bậc nam tử khí khái, người tài giỏi, người biết lo xa cho đời này, thì chỉ càng ngày càng xa con đường thành Phật.

Cho nên, ngay từ hôm nay, nếu biết tìm phương cách đưa mình đến quả vị Phật viên mãn thì đó mới thật là người biết lo xa.

Đó mới là người có chí khí lớn.

Đó mới là người biết chuẩn bị cho tương lai.

Theo ý nghĩa của Chánh pháp thì người trí cũng là người ấy, bậc chân tu cũng là người ấy, bậc thiện nhân cũng chính là người ấy.

Con đường duy nhất đưa đến thành Phật nhanh chóng chính là như vậy.

Đó là tinh yếu của A-tỳ-đạt-ma.

Đó là tinh yếu của Kinh tạng.

Đó là tinh yếu của Luật tạng.

Đó cũng là cốt lõi của Văn, Tư và Tu.

Tất cả mọi hạnh khổ hạnh khó làm, mọi công đức, mọi năng lực đều quy tụ về một mục đích duy nhất là thành tựu Phật quả.

Từ bộ Kārikā của Luật tạng cho đến Mật điển Guhyasamāja (Bí Mật Tập Hội), tất cả Kinh, Luật, Luận và Mật điển đều chỉ là giáo pháp dành cho một người tu.

Chư Phật chỉ vì thời điểm và căn cơ khác nhau mà giảng dạy khác nhau.

Không có một lời dạy nào của Đức Phật là dư thừa hay vô ích.

Tất cả giáo pháp đều đồng một vị.

Nếu nói: 'Đây là pháp của chúng ta, kia là pháp của họ', rồi chê bai giáo pháp của người khác thì như trong Kinh Tán thán Bát Thánh đã dạy, người ấy sẽ đọa địa ngục.

Không nên tùy tiện phê phán bất kỳ ai.

Bởi tất cả việc làm đều tùy thuộc nơi tâm ý.

Ta không biết người ấy đang mang tâm nguyện gì.

Có người nhìn bề ngoài tưởng như chỉ lo cho đời này, nhưng trong tâm hoàn toàn không vì bản thân, chỉ vì lợi ích chúng sinh.

Cũng có người ngoài miệng nói vì lợi ích chúng sinh nhưng thực ra chỉ cầu lợi cho chính mình.

Lại có người trước hết hoàn thiện chính mình rồi nhờ đó mới có thể lợi ích người khác.

Nếu nói rằng không thể có người hoàn toàn vô ngã thì đó chỉ là lỗi nơi nhận thức của chính mình.

Có người nói:

'Muốn tu Pháp chân thật thì phải có tài sản riêng. Nếu không có của cải thì phải nể mặt người khác; nếu có tài sản thì không cần nhìn sắc mặt ai. Cho nên tích lũy một ít của cải cũng là trợ duyên cho việc tu hành.'

Tất cả những lời ấy đều do chưa quán niệm về cái chết và chưa có chánh kiến đối với Phật pháp.

Nếu từ tận đáy lòng chưa thật sự quán niệm cái chết thì Chánh pháp sẽ không thể sinh khởi.

Nếu thật sự nhớ đến cái chết thì tâm sẽ không còn chỗ bám víu.

Lúc ấy còn đâu lòng muốn tích góp của cải?

Có người lại nói:

'Còn sống thì cứ hưởng, chết rồi ai muốn lấy thì lấy.'

Theo ta, đó chính là người chỉ biết đời này.

Người có của cải mà không cần nhìn sắc mặt người khác, nếu thật sự biết tu thì còn có thể tu tốt hơn hiện nay.

Muốn thành tựu Phật quả viên mãn thì dù khó khăn nhỏ đến đâu cũng phải vượt qua.

Giống như khi muốn mua một vật quý giá, người ta gom góp mọi thứ mình có, dù phải bán thêm tài sản khác cũng cam lòng.

Việc tu không nằm ở chỗ biết nhiều giáo pháp.

Không nằm ở chỗ biết nhiều khẩu truyền thâm sâu.

Mấu chốt là gặp được một bậc Đạo sư chân chính, để nhờ đó đưa tâm mình đến Pháp thân.

Hiện nay chính là lúc phải tìm kiếm một vị Thầy chân chính.

Nhưng có người lại nói:

'Đến gặp vị Thầy ấy làm gì? Tự ngồi giả vờ thiền định còn hay hơn.'

Những người như vậy có rất nhiều.

Muốn gặp được một vị Thầy chân chính phải tích lũy vô lượng công đức.

Nếu bây giờ không chịu tìm Thầy mà chỉ ngồi giả bộ tu thì làm sao có thể gặp được?

Khi gặp được một bậc Đạo sư chân chính, nhờ oai lực gia trì của Thầy mà định sẽ sinh khởi.

Từ định ấy nhận ra bản tâm và nhờ đó thành Phật.

Thế nhưng có người lại thích được người đời không chê cười hơn là thành Phật.

Nói cho cùng, người quá khôn ngoan tính toán đời này và quá tự phụ thì Chánh pháp khó sinh khởi.

Chánh pháp chỉ nương nơi ba điều:

  • Đức tin.
  • Tinh tấn.
  • Trí tuệ.

Những ai tụ hội trước một vị Thiện tri thức cũng phải vì muốn đưa tâm mình vào Chánh pháp mà tụ hội.

Không phải để xem ai khôn hơn, ai tài hơn, ai mưu mẹo hơn.

Có vị Thiện tri thức đem giáo pháp thâm sâu đặt trọn trong tâm để trao truyền.

Thế nhưng người ta lại không quý trọng giáo pháp ấy; chỉ cần biếu chút lễ vật thì mới được xem trọng.

Hiện nay người ta còn chế giễu việc tìm Thầy và cầu giáo pháp.

Ví như có người mắc món nợ rất lớn, ai cũng sẽ khuyên:

'Anh nên tự mình đi giải quyết việc ấy; nhà cửa cứ để tôi trông giúp.'

Thế mà điều ấy lại bị xem là sai.

Điều chắc chắn nhất là một ngày kia chúng ta sẽ bỏ lại tất cả phú quý rồi một mình ra đi.

Đó không phải câu chuyện nghe kể, mà là điều đang diễn ra trước mắt.

Vậy mà những người tự cho mình tài giỏi, biết lo xa, cho đến những cụ già tám mươi tuổi, vẫn tiếp tục chỉ lo tính toán cho đời này.

Những người chỉ biết hưởng lạc trước mắt, không nghĩ đến hậu quả lâu dài, thật đáng thương.

Có người nói:

'Nếu không lo tuổi già thì sau này sẽ khổ.'

Nhưng nếu cả đời chỉ lo cho đời này thì đời sau còn khổ hơn nữa.

Lại có người nói:

'Chuyện chết hãy để sau rồi tính.'

Đó chỉ là tâm niệm cho rằng mình chưa chết.

Toàn bộ đều là vọng tưởng về đời này.

Hôm nay làm việc này.

Ngày mai làm việc kia.

Ngày kia làm việc khác.

Đợi già rồi sẽ tu.

Tất cả chỉ là vọng tưởng của đời này.

Người tu chân chính phải nghĩ ngược lại:

'Cái chết không hẹn trước.'

Khi ấy sẽ tự chuẩn bị cho cái chết.

Đến lúc lâm chung, tâm sẽ được an ổn.

Vì tất cả phú quý của đời này đều phải bỏ lại mà ra đi.

Điều trái nghịch lớn nhất đối với người tu chính là sự phồn hoa của thế gian.

Hiện nay người ta chỉ biết ngưỡng mộ người đời.

Người đời cũng chỉ biết ngưỡng mộ lẫn nhau.

Người thật sự đi ngược dòng thế gian thì không còn ngưỡng mộ họ nữa; đó mới gọi là quay lưng với thế tục.

Chỉ không lấy vợ hay không lập gia đình thì chưa đủ.

Điều quan trọng là phải quay lưng với tám pháp thế gian.

Tích lũy công đức nghĩa là đưa tâm mình vào Chánh pháp.

Không phải là được nhiều người kính trọng hay mặc áo quần đẹp.

Cho dù mắc bệnh cùi, mù mắt, mất chân tay, thân thể lở loét không ai muốn đến gần, nhưng nếu tâm hoàn toàn hướng về Chánh pháp thì đó mới gọi là tích lũy công đức.

Ngày nay người đời xem người giỏi tích góp của cải là người tài giỏi.

Nhưng ta đã thấy biết bao người chết sau khi tích lũy của cải.

Ngay cả loài vật cũng biết tích trữ:

Chuột tích trữ ngũ cốc.

Ong tích mật.

Chim làm tổ.

Muông thú đều biết gom góp thức ăn cho mình.

Nếu chỉ biết tích góp thì đâu có gì đáng tự hào hơn loài vật?

Trái lại, nếu biết bố thí thì như Kinh dạy, sẽ không sinh vào loài ngạ quỷ; dù tái sinh nơi nào cũng không rơi vào cảnh nghèo khổ.

Thay vì mãi ca ngợi việc chuẩn bị cho tuổi già, hãy dốc sức thực hành Chánh pháp đúng như Pháp để chuẩn bị cho tương lai vĩnh viễn.

Người hiểu Phật pháp không phải là người giỏi nói.

Mà là người biết con đường đưa đến thành Phật.

Biết đường mà không đi thì chẳng ích gì.

Thà bước đi trên con đường ấy còn hơn chỉ biết nói về nó.

Nếu ngay bây giờ không thực hành, chỉ nghĩ rằng sau này chuẩn bị rồi sẽ tu, thì đến lúc chuẩn bị xong sẽ không còn thời gian nữa.

Đời người sẽ trôi qua chỉ để chuẩn bị."**

Có người nói:

"Mật tông và Giới luật (Vinaya) trái ngược nhau."

Đó là lời của người chưa hiểu.

Nếu điều gì không thích hợp để làm nền tảng của Mật thừa thì điều đó cũng không phải là Giới luật.

Nếu điều gì trái với Giới luật thì đó cũng không phải là Mật tông chân chính.

Giống như muốn có mùa màng thì lúc tưới nước, lúc cày bừa, không thể chỉ làm một việc rồi bỏ việc khác.

Tất cả những việc ấy đều phải phối hợp thành một thì mới có thể thu hoạch.

Cũng vậy, tất cả giáo pháp đều phải được kết hợp để hướng về một mục đích duy nhất.

Ta thấy nhiều vị Geshe (Thiện tri thức) học rộng hiểu nhiều, được người đời kính trọng.

Nhưng nếu ngay từ đầu họ không vì sợ cái chết mà học Pháp, chỉ vì muốn người khác không chê cười, muốn được người đời tôn trọng, muốn được gọi là Thầy, là Trưởng lão, là Tỳ-kheo, là Geshe, nên mới học nhiều, suy nghĩ nhiều;

Rồi sau khi có chút kiến thức lại đảm nhiệm việc quản lý chùa viện, làm người được tín đồ kính trọng, ai cũng giữ thể diện cho mình;

Hoặc sau khi thọ Cụ túc giới thì chỉ làm ra vẻ một vị tăng nghiêm chỉnh để mọi người gọi mình là người tu;

Hoặc trước hết học qua một ít Tam tạng, sau đó lại học thêm đôi chút khẩu truyền, rồi giả vờ nhập thất thiền định, dùng đủ mọi phương cách để đứng đầu đại chúng, khiến mọi người tán thán:

"Đó là một vị Geshe thật phi thường."

Nếu tất cả chỉ nhằm danh tiếng, địa vị và sự ca ngợi thì dù là Geshe hay bất cứ danh hiệu nào khác cũng không hề trở thành nhân duyên giải thoát khỏi luân hồi.

Nếu giáo pháp học được không trở thành thuốc đối trị năm độc (tham, sân, si, mạn, nghi) thì học rộng để làm gì?

Bệnh không được chữa bằng thuốc thì còn có phương thuốc nào chữa nổi?

Nếu dục vọng của chính mình vẫn chưa giảm bớt, nếu lòng tin sâu xa vào nhân quả vẫn chưa sinh khởi, thì dù nổi tiếng là người quản lý giỏi, làm việc giỏi cũng có ích gì?

Nếu đời sau sinh vào đường ác thì tất cả công lao ấy sẽ biết tìm ai để nương cậy?

Nếu vẫn chưa buông bỏ chấp trước vào luân hồi và ngũ dục thì dáng vẻ của một vị xuất gia có ích gì?

Trước tấm gương nghiệp báo của Diêm Vương, ai có thể đánh lừa được?

Nếu hoàn toàn không có dù chỉ một chút tâm Bồ-đề vì lợi ích chúng sinh, chỉ lo chạy theo tám pháp thế gian và lợi ích bản thân, thì danh xưng Geshe ấy có tác dụng gì?

Khi quả báo của nghiệp ác chín muồi và phải chịu khổ đau, lúc ấy sẽ tìm ai giúp đỡ?

Không chịu suy nghĩ như vậy, chỉ mải mê theo đuổi dục lạc và địa vị của đời này, là vì Chánh pháp chưa thật sự sinh khởi trong tâm mình cũng như trong tâm người khác; là vì chưa chịu chuyển hướng tâm mình vào Chánh pháp.

Cần phải giống như bậc Thánh Thường Khấp Bồ Tát (Sadāprarudita), ngoài việc thành Phật thì không mong cầu điều gì khác.

Điều cốt yếu là không được lấy đời này làm chính rồi tiện đâu tu đó.

Nếu không có người lắng nghe thì cũng mặc.

Nếu không quán niệm về cái chết thì người ta chỉ biết tìm kiếm lợi ích lớn nhất cho đời này.

Nếu việc riêng của mình bị ảnh hưởng thì thậm chí cũng dám trái lời dạy của Thầy.

Chỉ cần cảm thấy đời này mình còn có chút hy vọng, thì lòng tin cũng lớn đấy, sự cung kính đối với Thầy cũng nhiều đấy, nhưng tận trong đáy lòng vẫn chỉ là sự tính toán cho bản thân.

Vì vậy mới nói:

"Thân người đầy đủ tự do và thuận duyên này thật vô cùng khó được." (དལ་འབྱོར་འདི་ནི་ཤིན་ཏུ་རྙེད་པར་དཀའ།)

Người ta chỉ cần nói một câu như vậy cũng đủ rồi.

Thế nhưng, hầu hết mọi người đều giống nhau: tuy mang danh học Pháp nhưng thật sự cầu Pháp thì rất ít.

Người ta mong nhờ học Pháp mà có được phước báo của người tu.

Nhưng tận gốc rễ lại sai lầm rất lớn mà chính họ không nhận ra.

Thật đáng thương.

Nếu tâm chưa quay lưng với đời này thì đến lúc tuổi già, vì sợ khổ mà không dám bố thí.

Ngay cả việc giữ giới cũng cần phải có tâm không còn tham luyến.

Bởi vì khi về già, do sợ khổ nên lòng tham sẽ sinh khởi.

Cho nên nếu chưa từ bỏ lòng ham muốn đối với đời này thì tư lương công đức không thể viên mãn.

Vì vậy, điều quan trọng nhất là phải buông bỏ đời này trong chính tâm mình.

Ta đã lặp lại lời này đến ba lần.

Toàn bộ cốt tủy của Phật pháp đều nằm ở đó.

Ranh giới giữa luân hồi và giải thoát cũng phải được phân định từ đó.

Mọi nền tảng của hạnh phúc lâu dài đều bắt đầu từ đó.

Mọi gốc rễ của lỗi lầm cũng phải được chặn ngay từ đó.

Nền móng của mọi điều an vui tốt đẹp cũng phải được dựng lên từ đó.

Cho nên, từ bỏ mọi vọng tưởng đối với đời này là điều vô cùng hệ trọng.

Không có lúc nào là không cần phải từ bỏ.

Mọi nguyên nhân dẫn đến đau khổ đều bắt nguồn từ đó.

Vì thế nhất định phải đoạn trừ nó.

Ta thấy nhiều người mới bước vào cửa Phật.

Lúc còn là người thế tục thì ít tham tài sản, ít quyến luyến thân thuộc, ít bận tâm công việc thế gian.

Thế nhưng sau khi vào cửa Phật thì lại chính họ lo toan mọi việc thế tục.

Chính họ dạy người khác tính toán tỉ mỉ, keo kiệt.

Thậm chí việc nhỏ như sai người làm việc vặt, đưa thư, truyền tin, chạy việc linh tinh... cũng đều sai bảo người khác làm.

Họ tính toán thu chi ngày càng chi li.

Buôn bán cũng khéo léo chẳng kém gì người đời.

Thân thì mang danh đang tu hành.

Nhưng trong tâm chỉ nghĩ đến tiền bạc.

Suốt ngày chỉ lo những việc chẳng ai giao.

Đó cũng là vì không quán niệm về cái chết.

Nếu thực hành Phật pháp đúng như Chánh pháp thì:

Ngay cả kẻ thù cũng sẽ đem lòng quý mến.

Thân quyến cũng sẽ được cảm hóa.

Chư Phật và tất cả Bồ Tát đều gia hộ.

Các bậc Đạo sư và Thiện tri thức đều thương tưởng.

Mọi công việc của chính mình cũng sẽ được chư Thiên và các vị Hộ pháp giúp đỡ.

Cho nên mọi tâm nguyện đều có thể thành tựu như ý.

Vì vậy, điều cốt yếu nhất là khiến tâm mình thật sự trở thành Phật pháp.

Toàn bộ Tam tạng Kinh điển cuối cùng cũng đều quy về việc điều phục một tâm này.

Bây giờ có những người tự cho mình hơn tất cả bạn bè, địa vị cao, quyền thế lớn.

Hôm nay tuy đầu ngẩng cao như vậy.

Nhưng rồi nhất định họ cũng sẽ chết.

Đến khi chết, mọi thứ sẽ hoàn toàn khác.

Điều cần nhất là đến lúc lâm chung không còn gì phải hối tiếc.

Khi bệnh chết đã đến, biết chắc mình không còn thoát được nữa.

Lúc ấy mới nghĩ:

"Nếu lần này chưa phải chết thì ta sẽ làm tốt hơn."

"Lần này nếu không chết, ta nhất định sẽ tu hành chân thật."

Những ý nghĩ ấy đều đã quá muộn.

Cho nên ngay bây giờ, khi ngọn lửa tham dục còn đang cháy, đừng tiếp tục lang thang vô ích trong luân hồi.

Bởi vì mỗi người đều có Phật tính và đều có khả năng thành Phật.

Đời người ngắn ngủi này, dù thế nào rồi cũng sẽ chấm dứt.

Cho nên hãy buông bỏ đời này.

Hãy thực hành Chánh pháp chân thật.

Ngoài điều đó ra, mọi thứ khác đều không có ích.

Đó chính là lời dạy duy nhất mà ta muốn nói.

Nếu không phát xuất từ tận đáy lòng thì hãy xem như chưa từng nói.

Đây gọi là "Lời dạy dài duy nhất của Đạo sư Potowa", là dấu hiệu rốt ráo của một người thật sự đã đem Phật pháp vào thực hành.

Hết.

 

Ôi kỳ diệu thay!

Ngày nay chúng sinh thời mạt pháp căn cơ thật cạn mỏng.

Chánh pháp ngày càng suy giảm, nên Phật pháp không thể thấm vào tâm.

Chúng sinh trong thời ngũ trược hoàn toàn không có an vui.

Không có phương tiện sinh sống chân chính, nhưng lại chỉ mong cầu hưởng thụ.

Không còn nương tựa bậc thầy, ai cũng tùy ý làm theo ý mình.

Không cần giới luật, chỉ sống buông thả theo dục vọng.

Không cần học hỏi và tư duy giáo pháp,

Giống như bầy thú hoang tự do chạy nhảy.

Càng có nhiều thầy dạy và đệ tử,

Thì Chánh pháp càng nhanh chóng bị mai một.

Giáo pháp của đấng Chiến Thắng

Dần dần lụi tàn như màn đêm buông xuống.

Những người hành trì Phật pháp

Cũng bỏ chạy tán loạn như bầy nai yếu đuối.

Các bậc Thánh giả

Lần lượt thị tịch.

Cho nên thời nay,

Không còn nơi nương tựa nữa.

Những giáo huấn cam lồ của Đức Atisha,

Được tôn xưng là "Đức Phật thứ hai của cõi Diêm-phù-đề",

Đã bị pha tạp như sữa bị pha nước để đem bán,

Rồi dùng để mê hoặc người đời.

Dòng truyền thừa chứng ngộ của các bậc Thánh

Nay chỉ còn là sự truyền miệng suông.

Những khẩu truyền trực tiếp từ Đạo sư

Nay chỉ còn được truyền qua sách vở.

Những giáo pháp Lojong (Luyện tâm)

Xưa kia chỉ truyền riêng kín mật,

Nay lại bị rao giảng giữa chợ.

Những pháp quán chuẩn bị cho cái chết

Nay ngay cả tên gọi cũng chẳng còn.

Những phương pháp khảo nghiệm đệ tử,

Điều phục tâm trước khi truyền pháp,

Ngày nay cũng không còn nữa.

Ngày xưa các bậc Thánh

Luôn ca ngợi lẫn nhau.

Ngày nay

Ai cũng chỉ biết cạnh tranh.

Ngày xưa

Khuyến khích vào nơi thanh vắng để chuyên tu.

Ngày nay

Điều ấy hiếm như sao giữa ban ngày.

Ngày xưa

Suy tư giáo huấn rồi dâng lên kinh nghiệm chứng ngộ.

Ngày nay

Điều ấy cũng hiếm như sao ban ngày.

Ngày xưa

Không bận tâm vật chất,

Chỉ chuyên tâm tu hành.

Ngày nay

Lại trở thành đối tượng đáng thương hại.

Ngày xưa

Xem tài vật là chướng ngại của Phật pháp.

Ngày nay

Lại coi đó là dấu hiệu của người có phước.

Ngày xưa

Ngồi yên quán chiếu giáo huấn.

Ngày nay

Bị cho là chẳng hiểu gì.

Ngày xưa

Chấp vào văn tự khô cứng,

Nuôi lớn lòng tham cầu tri thức,

Là điều bị chê trách.

Ngày nay

Lại được xem là người thông hiểu mọi giáo pháp.

Ngày xưa

Buông bỏ đời này để chuyên tu.

Ngày nay

Lại bị cho là làm hỏng cuộc đời mình.

Ngày xưa

Không nhìn đời sau,

Chỉ lo tích lũy của cải,

Là điều bị quở trách.

Ngày nay

Lại được xem là thành tựu việc lớn.

Ngày xưa

Buông mọi công việc,

Chỉ giữ lấy tinh túy của Phật pháp.

Ngày nay

Lại bị cho là người vô dụng.

Ngày xưa

Từ bỏ những ham muốn của đời này.

Ngày nay

Lại được gọi là người không biết nghĩ cho người khác.

Ngày xưa

Không chịu đáp trả bằng lợi lộc,

Chỉ chuyên tích lũy công đức.

Ngày nay

Lại được cho là đỉnh cao của Phật pháp.

Ngày xưa

Kính trọng giới luật,

Luôn giữ mình ở vị trí khiêm hạ.

Ngày nay

Lại bị mọi người khinh rẻ.

Ngày xưa

Người không biết sợ tội lỗi,

Sống buông lung,

Là điều đáng chê trách.

Ngày nay

Lại được mọi người tôn lên đầu.

Ngày xưa

Người trẻ kính người già.

Người già dạy dỗ người trẻ.

Tỳ-kheo kính trọng các vị trưởng lão.

Người mới đến kính trọng người đến trước.

Ngày nay

Mọi thứ đều đảo ngược.

Không chỉ một hay hai trường hợp,

Mà giống như dịch bệnh lan tràn,

Khắp nơi đều như vậy.

Vì thế,

Những hạnh nghiệp chân chính đưa đến quả vị Phật,

Ngày xưa vốn đã hiếm,

Ngày nay lại càng khó tìm hơn nữa.

Các bậc Thánh

Lần lượt viên tịch.

Ngày nay

Không còn nơi để nương tựa.

Bởi vậy,

Hãy suy xét kỹ những ưu khuyết trong chính nhận thức của mình.

Đừng tìm lỗi ở bên ngoài.

Hãy quay lại nhìn vào chính nội tâm mình,

Để nhận ra và sửa chữa những lỗi lầm của bản thân.


Đây là một bài kệ rất nổi tiếng trong truyền thống Kadam, không nhằm chỉ trích người khác mà để quán chiếu chính mình. Toàn bộ bài kết thúc bằng lời nhắc nhở cốt lõi:

"Đừng nhìn lỗi của thời đại trước tiên; hãy quay lại nhìn lỗi trong chính tâm mình."

Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt của giáo pháp Kadam và Lamrim.

 

Ôi kỳ diệu thay!

Trong thời kỳ suy đồi của giáo pháp nơi cõi Ta-bà này,

Chúng sinh sinh vào thời ngũ trược thật không có hạnh phúc.

Do sinh kế khó khăn nên ai cũng chỉ mong cầu hưởng thụ.

Không còn cần đến Chánh pháp và giới luật, chỉ sống buông thả theo ý mình.

Không cần nghe pháp, tư duy và thiền định; chỉ cần đọc vài ghi chép là đủ.

Không cần quán xét đời sau; chỉ cần có ăn có mặc là đủ.

Không cần trên dưới, chủ tớ; ai cũng tự ý hành xử theo ý mình.

Không cần thầy trò đúng nghĩa, vì giáo pháp đang nhanh chóng bị mai một.

Bề ngoài tưởng như Phật pháp đang hưng thịnh,

Nhưng việc nghe – tư duy – tu tập đã suy tàn.

Không còn đệ tử chân thật,

Nên cũng không còn ai có thể truyền dạy chân lý chân thật.

Bị con ngựa của dục vọng kéo lôi,

Người không hiểu nhân duyên lại đi dạy người khác về nhân duyên.

Người mù dẫn người mù,

Cùng nhau rơi xuống vực sâu.

Dấu hiệu của sự suy tàn truyền thống Kadam

Là những bản ghi chép bị sao chép, pha tạp và sửa đổi lung tung.

Vì chưa khởi tâm quán niệm về cái chết,

Nên bám chặt vào đời này như ôm giữ than hồng.

Tưởng rằng mình đang tu thiền,

Nhưng lòng ham muốn thế gian lại ngày càng tăng.

Muốn phát tâm lợi tha,

Nhưng ngay cả sự chấp ngã của chính mình cũng chưa đoạn được.

Miệng tự xưng là người tu,

Nhưng vẫn chưa nhận ra kẻ thù thật sự là phiền não trong chính mình.

Bỏ mặc việc điều phục tâm mình,

Lại chuyên soi xét lỗi lầm của người khác.

Chỉ có chút thiện hạnh nhỏ bé,

Đã vội rêu rao khắp nơi.

Lập nhiều lời nguyện,

Nhưng đến chỗ khó khăn thì lại không vượt qua nổi.

Như vị vua ngồi trên ngai vàng,

Nhưng mắt vẫn nhìn chằm chằm bát cơm.

Như chim ưng bay cao giữa trời,

Nhưng mắt vẫn chỉ tìm mồi dưới đất.

Miệng nói toàn những giáo pháp thâm sâu,

Nhưng mọi hành động đều chỉ vì đời này.

Cắt bỏ giới luật,

Lại lấy việc bố thí để che đậy lỗi lầm của mình.

Không chỉ một hai người,

Mà hầu như tất cả đều như vậy.

Vì thời đại đã đi lệch khỏi Chánh pháp,

Nên từ nay chỉ còn ngày càng suy đồi hơn nữa.

Đây là Thư khuyến giáo (Trin-yig) theo truyền thống của Đại Thiện tri thức Potowa.

 

《པོ་ཏོ་བའི་གནས་ཐིག་སྤྲིངས་ཡིག》
Thư khuyến tu "Gnas thig" của Tôn giả Potowa (Bố Đa Oa).

Đảnh lễ

Đảnh lễ bậc Đạo sư, thân như biển cả công đức, quý báu như châu ngọc, nguồn gốc của mọi an lạc.

Muốn biết tâm mình có thật sự đi đúng con đường hay không, phải y theo giáo huấn khẩu truyền của bậc Đạo sư.

Đúng như ý chỉ trong lời Phật dạy,

được các bậc Đại luận sư như Long Thọ và các vị khác xác lập,

các bậc Thánh giả nối tiếp truyền thống của Tôn giả Atisha đều dạy như sau:


Chúng sinh vốn sẵn đủ Phật tính.

Nhưng nếu không tu tập đúng nhân duyên,

thì không thể đạt quả vị cao quý.

Ví như sữa vốn có thể làm thành bơ,

nhưng nếu không khuấy thì bơ sẽ không xuất hiện.

Cũng vậy,

nếu bản thân và người khác đều mong thoát khổ,

thì phải tuần tự bước vào giáo pháp của Đức Phật.

Hãy từ bỏ mọi nhân tạo nên khổ đau là nghiệp ác.

Hãy tu tập giác ngộ, là nguồn gốc của mọi an vui.


Giác ngộ lại tùy thuộc nơi tâm.

Gốc rễ của Phật pháp cũng nằm nơi tâm.

Vì vậy,

mọi thành tựu đều nương nơi khẩu quyết của Đạo sư.

Khẩu quyết ấy lại nương nơi đức tin chân thật.

Đức tin chân thật

lại nương nơi công đức đã tích lũy.

Sau khi tích lũy công đức,

hãy luôn thường xuyên quán chiếu tâm mình.

Nếu tâm không ngày càng chuyển hóa,

thì dù tinh thông Tam tạng,

vẫn chỉ là một người phàm.


Nếu không hiểu nhân quả,

không chán luân hồi,

tham dục ngày càng lớn,

không sợ ba đường ác,

không quy y Tam bảo,

thì dù phát nguyện nhiều đến đâu,

cũng chưa thật bước vào cửa Phật pháp.


Bỏ nền tảng trước,

mà chỉ mong cầu pháp cao hơn,

cũng giống như con gấu chỉ liếm mật bên ngoài.

Không tu pháp căn bản,

mà chỉ tìm pháp cao,

cũng giống như cho chó ăn nhưng nó chỉ nuốt chửng mà không biết mùi vị.


Người chưa tự lợi được mình

lại đi dạy người khác,

cũng giống như người bệnh cùi

lại đi giảng cách chữa bệnh cùi.


Dù rất giỏi ngôn từ,

nhưng không thực hành,

thì cũng như người chết khát giữa dòng nước.

Nếu nghe, suy nghĩ và thiền định

lại bị phiền não lấn át,

thì cũng giống như lửa cháy giữa biển lớn,

không còn cách cứu chữa.


Không nương tựa bậc Đạo sư,

tự mình tu tập,

giống như người mù

đi trong nơi đầy hiểm họa.

Tâm chưa được rèn luyện,

mà đã phát nguyện lớn,

đó chỉ là sự khoa trương,

như Tôn giả Atisha từng dạy.


Dù học rộng,

dù giữ giới nghiêm,

nếu tâm không đổi,

thì mọi công phu đều vô ích.

Toàn bộ Kinh và Luận

đều chỉ nhằm chuyển hóa dòng tâm thức.

Nếu tâm không đổi,

thì mọi thiện hạnh của thân và khẩu,

dù tu suốt vô lượng kiếp,

cũng không thể thành nhân giải thoát.


Nghe,

tư duy,

thiền định,

đều nhằm gieo chủng tử giác ngộ vào tâm.

Mọi giới luật,

mọi tinh tấn,

đều chỉ là phương tiện

làm nảy sinh Chánh pháp trong tâm.


Các thừa lớn nhỏ,

mọi hệ thống giáo pháp,

chỉ khác nhau

ở căn cơ của người tu.

Luân hồi và Niết-bàn,

không gì khác hơn

là có nhận ra bản tâm hay không.

Các địa và các đạo,

cũng chỉ là những tên gọi khác nhau

của mức độ chứng ngộ bản tâm.


Mức độ trưởng thành của tâm

được biểu hiện qua dấu hiệu bên ngoài.

Cho nên,

không thể có chuyện

thật hiểu Phật pháp

mà tâm lại không chuyển hóa.


Nếu tâm và Pháp hoàn toàn hòa làm một,

thì làm sao tâm còn có thể bất thiện?

Nếu thật hiểu

thân người quý báu khó được,

thì làm sao còn có thể sống buông thả?

Nếu thật nhớ vô thường,

thì làm sao còn tích chứa của cải cho tương lai?

Nếu biết đời người ngắn ngủi,

thì làm sao còn để hoàn cảnh xoay chuyển mình?

Nếu biết đời sau quan trọng hơn đời này,

thì làm sao chỉ lo cho hiện tại?

Nếu biết ác nghiệp tự hại mình,

thì dù mất mạng

cũng không tạo ác.

Nếu biết thiện nghiệp quý báu,

thì làm sao còn khoe khoang công đức?

Nếu thật tin nhân quả,

thì làm sao còn oán trách người khác?

Nếu thật sợ ba đường ác,

thì làm sao còn giả dối trong việc tu hành?

Nếu thấy rõ lỗi của dục vọng,

thì làm sao còn bị dục thiêu đốt?

Nếu thấy luân hồi toàn là khổ,

thì làm sao còn cầu phú quý thế gian?

Nếu thật khởi tâm cầu giải thoát,

thì làm sao còn luyến ái năm dục?

Nếu xem mọi chúng sinh như cha mẹ,

thì làm sao còn ganh ghét và ác ý?

Nếu thật có lòng lợi tha không giả tạo,

thì làm sao còn ngoài mặt tốt đẹp mà trong lòng khác đi?

Nếu biết ngã chấp và pháp chấp đều là mê lầm,

thì làm sao còn sinh kiêu mạn?

Nếu biết các pháp vốn vô sinh,

thì làm sao còn chấp tướng?

Nếu nhận ra phiền não chính là kẻ thù,

thì làm sao còn dung dưỡng chúng?

Nếu mọi pháp chưa trở thành thuốc đối trị phiền não,

thì chưa phải Chánh pháp.

Nếu mọi pháp đều đã trở thành thuốc chữa phiền não,

thì dòng tâm thức nhất định sẽ mềm mại, nhu hòa.


Vì vậy,

người mong cầu giải thoát

phải chuyển hóa tâm mình.

Ngay bây giờ,

hãy buông bỏ sự chấp trước vào đời này.

Đừng vì dục vọng

mà tạo các hành vi bất thiện.

Hãy sám hối nghiệp ác,

tích lũy công đức.


Nếu gặp được giáo pháp như thế này,

mà chỉ lấy làm lạ,

không chịu lắng nghe,

thì cũng giống như người bị mất mũi

không muốn soi gương.

Hãy biết rằng,

đó là vì tâm mình và Pháp

đã không còn tương ứng.


Nếu thuận theo giáo huấn của Đạo sư,

thì đây chính là cốt tủy của mọi giáo pháp.

Ai tương ưng với giáo pháp này,

thì nơi người ấy,

mọi công đức của Phật pháp

đều sẽ sinh khởi.


Nguyện nhờ công đức

tu tập giáo pháp này,

con luôn được các bậc Thánh giả

nhiếp hộ.

Nguyện thoát khỏi mọi nghiệp bất thiện,

tu trọn năm đạo Bồ Tát,

trở thành nơi nương tựa

cho tất cả chúng sinh.


Đây là "Gnas-thig Trin-yig" (Thư chỉ bày cốt yếu về nơi an trụ) của Đại thiện tri thức Potowa (Po-to-ba), một trong ba đại đệ tử của Dromtönpa Gyalwé Jungné trong truyền thống Kadam.

Đây được xem là một trong những bản văn tinh yếu nhất của truyền thống Kadam, cùng hàng với "Chiklab Ringmo" (Lời khuyên dài) mà bạn vừa gửi trước đó. Nội dung xuyên suốt đều quy về một điểm cốt lõi: toàn bộ Phật pháp đều nhằm chuyển hóa tâm; nếu tâm không chuyển hóa thì dù học rộng, trì giới hay thiền định nhiều cũng chưa đạt được mục đích của đạo.

 

Viết bình luận

Bình luận

Hiện tại bài viết này chưa có bình luận.

Bài viết liên quan:

"Bát Cát Tường Thượng Phẩm" (Tám vật phẩm cát tường tối thắng).

Trong Nghi quỹ Mạn-đà-la Cửu Đỉnh (Tshug-gu'i Dkyil Chog) có dạy rằng: Hạt cải trắng thành tựu oai lực và năng lực.Cỏ durva thanh tịnh tối thượng.Chu sa có công năng thu nhiếp mọi công đức.Giwang là tinh túy tối thượng của các dược chất.Chiếc gương làm hiển bày rõ mọi ý nghĩa.Ốc trắng thù thắng tuyên dương âm thanh Chánh pháp.Thực phẩm tối thắng (sữa chua) làm tăng thêm dung sắc và oai quang.Quả Bilva làm cho mọi quả lành được chín muồi.Nguyện tất cả những vật phẩm ấy trở thành nhân duyên viên mãn mọi sự thọ dụng. Như lời...

Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni

Đảnh lễ Đức Phật Đảnh Tôn Thắng (Uṣṇīṣavijayā) Chỉ cần nghe danh hiệu của Ngài, Thì cái chết phi thời được dập tắt; Mọi tội chướng đều được thanh tịnh; Con xin đảnh lễ Đức Phật Đảnh Tôn Thắng. Thuở ấy, tại cõi trời Tam Thập Tam Thiên (Trāyastriṃśa), trước pháp tòa của chư Thiên, có một vị thiên tử tên là Lodrö Tenpa (Bồ-đề dịch nghĩa: Trí Kiên hay Trí Tuệ Kiên Cố). Vị thiên tử ấy đang hưởng thọ mọi dục lạc của cõi trời, sống trong niềm hoan hỷ và an vui. Một đêm nọ, bỗng nghe một âm thanh vô cùng đáng sợ...
Luận Giải “Luyện Tâm Bát Đoạn” – Geshe Ngawang Dhargyey

Luận Giải “Luyện Tâm Bát Đoạn” – Geshe Ngawang Dhargyey

Bối Cảnh Bản văn này được sáng tác trong tám vần kệ của Geshe Langri Tangpa (Langtangpa). Giáo lý này có thể được truy nguyên về chư đạo sư Kadam. Geshe Potowa, một hóa thân của Đức Văn Thù, đã trao truyền nó cho Geshe Sharawa, rồi đến Geshe Langri Tangpa. Hai vị này được gọi là mặt trời và mặt trăng của các đệ tử Kadam.Đó là truyền thống để giải thích tiểu sử ngắn gọn của tác giả, để phát triển tín tâm cho đệ tử, và biểu thị nguồn giáo lý xác thực, nhưng không có thời gian...

Giới thiệu về hai Đại Mandala trong Phật giáo Mật thừa

Mandala, là một hình vẽ biểu thị vũ trụ trong cái nhìn của một bậc giác ngộ. Manda nghĩ là "tinh túy", la là "chứa đựng”. Trong tiếng Phạn, mandala có nghĩa là một trung tâm. Có thể coi mandala là một hình vũ trụ thu nhỏ. "Mandala" dịch nghĩa theo chữ Hán là "luân viên cụ túc" nghĩa là vòng tròn đầy đủ. Theo ý nghĩa thực tiễn thì mandala là đàn tràng để hành giả bày các lễ vật hay pháp khí để thực hành các nghi thức tu tập, cầu nguyện. Với các hành giả Đại thừa,...

Hiểu về Chân lý Cao quý thứ nhất.

Cuộc sống là khổ đau. Sự thật về khổ đau.   Chắc hẳn bạn đã từng nghe những lời dạy của Đức Phật về bản chất của cuộc sống này. Trong hơn một trăm năm qua, phần lớn giáo lý của Đức Phật đã được du nhập vào tư tưởng và văn hóa phương Tây. Biết rằng tất cả giáo lý của Đức Phật đều xoay quanh Tứ Diệu Đế , chúng ta cần phải hiểu đúng ý nghĩa những lời dạy nền tảng của Ngài.   Trong bài thuyết pháp đầu tiên, Đức Phật đã dạy rằng:   Này các tỳ kheo, đây chính là chân lý...

“Cái gì phát sinh rồi cũng phải chấm dứt.”

“Mọi thứ có thể phát sinh đều có thể chấm dứt.” Đây là câu mà Kondanna thốt ra sau khi nghe bài giảng đầu tiên của Đức Phật về Tứ Diệu Đế. Đức Phật đáp lại: “Kondanna hiểu. Kondanna là người hiểu thấu tất cả.” Cuộc đối thoại tưởng chừng không đáng kể này diễn ra ở cuối kinh Dharmachakra-pravartana nhưng nó chỉ ra chính xác điều mà Đức Phật đang cố gắng làm sáng tỏ, đó là trí tuệ về duyên khởi .   Cái gì thay đổi thì vô thường. Cái gì vô thường thì đều phải chịu khổ, hay nỗi đau . Cái gì có điều kiện...

Mọi thứ bên trong mandala đều có mối liên hệ với nhau.

Kyilkhor là từ tiếng Tây Tạng dùng để chỉ mandala. Mandala là sự biểu hiện của bồ đề tâm, tâm thức giác ngộ. Đó là một không gian thiêng liêng đại diện cho những gì chúng ta đang cố gắng thể hiện trong trải nghiệm của mình và trong thế giới xung quanh. Mandala đóng vai trò như một điểm tựa cho người tu tập trên con đường tu tập, hỗ trợ họ trong việc chiêm nghiệm và thiền định. Đó là một cõi thuần khiết, một lĩnh vực trải nghiệm mà người tu tập khao khát giác ngộ chọn làm...
Pháp Khí Mật Tông - Bảo Liên. Cung cấp bởi Sapo.
Lên đầu trang
Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông
Trang chủ Danh mục Liên hệ Tài khoản Giỏ hàng