"Bát Cát Tường Thượng Phẩm" (Tám vật phẩm cát tường tối thắng).

Trong Nghi quỹ Mạn-đà-la Cửu Đỉnh (Tshug-gu'i Dkyil Chog) có dạy rằng:

Hạt cải trắng thành tựu oai lực và năng lực.
Cỏ durva thanh tịnh tối thượng.
Chu sa có công năng thu nhiếp mọi công đức.
Giwang là tinh túy tối thượng của các dược chất.
Chiếc gương làm hiển bày rõ mọi ý nghĩa.
Ốc trắng thù thắng tuyên dương âm thanh Chánh pháp.
Thực phẩm tối thắng (sữa chua) làm tăng thêm dung sắc và oai quang.
Quả Bilva làm cho mọi quả lành được chín muồi.
Nguyện tất cả những vật phẩm ấy trở thành nhân duyên viên mãn mọi sự thọ dụng.

Như lời dạy trên, Tám vật phẩm cát tường tối thắng gồm có:

  • Hạt cải trắng (ཡུངས་དཀར་)
  • Cỏ Durva (རྩྭ་དུར་བ་)
  • Chu sa (ལི་ཁྲི་)
  • Giwang (གི་ཝཾ་)
  • Gương (མེ་ལོང་)
  • Ốc trắng (དུང་དཀར་)
  • Sữa chua (ཞོ་)
  • Quả Bilva (བིལ་བ་)

Ý nghĩa biểu trưng của tám vật phẩm này là:

Chúng tượng trưng cho sự thành tựu viên mãn mọi lợi ích của chúng sinh, dập tắt hoàn toàn tất cả những điều trái nghịch, chướng ngại và bất tường; đồng thời biểu thị sự làm chủ mọi phú quý, cát tường của cả luân hồi và niết-bàn.

Ngoài ra, trong Luật tạng, Kinh Niệm Xứ (Smṛtyupasthāna Sūtra) và nhiều kinh điển khác đã giảng về nguồn gốc của Tám vật phẩm cát tường, cũng như ý nghĩa biểu trưng của từng vật phẩm.

 

Trong bản Nghi quỹ Trường thọ của Bạch Tara có dạy:

Chỉ cần được chạm đến, nhìn thấy, nghe đến hay nhớ nghĩ đến,
Đều có thể tiêu trừ mọi điều bất tường và ban cho sự viên mãn tối thắng.
Tám vật phẩm cát tường đã được chư Phật gia trì,
Nguyện nhờ dâng cúng tám vật phẩm ấy mà mọi điều thiện lành và cát tường đều hưng thịnh rực rỡ.

 

Đúng như lời dạy ấy, thuở xưa, khi Đức Phật Thế Tôn còn trụ thế, các vị thí chủ là chư thiên và loài người đã dâng lên Đức Thế Tôn nhiều vật phẩm cúng dường.

Đức Phật đã gia trì những vật phẩm ấy trở thành các vật phẩm cát tường.

Nguồn gốc việc các vật phẩm ấy trở thành cát tường nhờ sự gia trì của Đức Phật được trình bày như sau:

1. Gương (མེ་ལོང་)

Nữ thần sắc đẹp Öd Changma (Nữ thần Ánh Quang) đã dâng lên Đức Phật Thích Ca Mâu Ni một chiếc gương.

Do nhân duyên cúng dường ấy, Đức Phật Thế Tôn đã gia trì chiếc gương đó trở thành một trong Tám vật phẩm cát tường, làm nhân duyên để tất cả hữu tình có thể hiển lộ trí tuệ của chư Phật vốn thanh tịnh, không còn mọi che chướng, và nhờ đó tự tại thọ dụng Pháp thanh tịnh mà không còn ngăn ngại.

Vì vậy, chiếc gương đã được Đức Phật gia trì trở thành một vật phẩm cát tường.

Người dâng cúng gương sẽ đạt được những quả báo tương xứng với nhân đã gieo, như:

  • Có thân tướng đoan nghiêm, xinh đẹp.
  • Trí tuệ sáng suốt, tâm ý minh mẫn.
  • Và nhiều thiện quả tốt đẹp khác.

Trong Nghi quỹ Trường thọ của Bạch Tara lại dạy:

Chiếc gương là biểu tượng của đại dương trí tuệ vô biên.
Nguyện đại dương trí tuệ tối thắng ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Nguyện được tự tại thọ dụng Pháp thanh tịnh không còn chướng ngại.
Và nhờ điềm cát tường ấy, nguyện mọi che chướng đều được thanh tịnh.

2. Giwang (གི་ཝཾ)

Vật phẩm thứ hai là Giwang.

Thiên vương của loài voi, vị Hộ Trì Mặt Đất (trong một số bản còn ghi là Đại tượng Norskyong – Voi Báu Hộ Tài) đã dâng Giwang lên Đức Thế Tôn.

Do nhân duyên cúng dường ấy, Đức Phật đã gia trì Giwang trở thành linh dược tối thượng, có năng lực chữa lành bệnh khổ do những đau đớn của phiền não gây ra và giúp chứng ngộ sâu xa ý nghĩa của Pháp tánh (Dharmatā).

Lại nữa, trong bản văn có dạy:

Giwang là linh dược chữa lành bệnh tật, có năng lực tiêu diệt ba độc.
Nhờ chứng ngộ rốt ráo Pháp tánh – vị thuốc tối thượng,
Mọi đau đớn do phiền não đều được dứt sạch.
Nguyện nhờ điềm cát tường ấy, mọi khổ đau đều được thanh tịnh.


3. Sữa chua (ཞོ)

Vật phẩm thứ ba là sữa chua.

Gia chủ Zangkyong (một số bản ghi là thiếu nữ Lek Kyema – con gái của một người nông dân) đã cung kính dâng sữa chua lên Đức Thế Tôn.

Do nhân duyên ấy, Đức Phật đã gia trì sữa chua trở thành biểu tượng giúp làm lắng dịu ba độc, đồng thời là nhân duyên để chứng ngộ trí tuệ tối thượng thanh tịnh của bản thể chân thật.

Lại nữa, trong bản văn có dạy:

Sữa chua là tinh túy của muôn pháp.
Nhờ chứng ngộ trí tuệ tối thượng thanh tịnh của bản thể,
Mà trở thành nền tảng, cảnh giới của tất cả công đức.
Nguyện nhờ điềm cát tường ấy, ba độc đều được lắng dịu.

4. Cỏ Durva (རྩྭ་དུར་བ་)

Vật phẩm thứ tư là cỏ Durva.

Bà-la-môn Kundali (trong một số bản ghi là Tashi – người bán cỏ) đã cung kính dâng cỏ Durva lên Đức Thế Tôn.

Do nhân duyên cúng dường ấy, Đức Phật đã gia trì cỏ Durva trở thành biểu tượng của thọ mạng Kim Cang Tát Đỏa, có năng lực chấm dứt dòng tương tục sinh tử do phiền não gây nên và thành tựu thành tựu trường thọ bất tử.

Trong bản văn lại dạy:

Cỏ Durva có năng lực làm tăng trưởng thọ mạng.
Nhờ thành tựu thọ mạng của Kim Cang Tát Đỏa,
Dòng tương tục sinh và tử do phiền não được đoạn dứt.
Nguyện nhờ điềm cát tường ấy, thọ mạng cũng được tăng trưởng.


5. Quả Bilva (བིལ་བ་)

Vật phẩm thứ năm là quả Bilva.

Nữ thần Cây cối (trong một số bản ghi là Đại Phạm Thiên – Brahmā) đã cung kính dâng quả Bilva lên Đức Thế Tôn.

Do nhân duyên ấy, Đức Phật đã gia trì quả Bilva trở thành biểu tượng cho quả vị thanh tịnh viên mãn, nhờ các nhân và duyên thanh tịnh của hạnh Đại Bồ-đề siêu vượt thế gian mà hiển lộ quả vị Phật, thành tựu viên mãn mọi mục đích.

Trong Nghi quỹ Trường thọ của Bạch Tara có dạy:

Quả Bilva biểu trưng cho toàn thể các pháp gồm nhân, duyên và quả.
Biểu trưng cho mọi hạnh tu của thế gian và xuất thế gian.
Được thanh tịnh viên mãn nơi cốt tủy tối thắng của giác ngộ.
Nguyện nhờ điềm cát tường ấy mà mọi thiện nguyện đều được thành tựu.

6. Ốc trắng xoắn phải (དུང་དཀར་གཡས་འཁྱིལ་)

Vật phẩm thứ sáu là ốc trắng xoắn phải.

Thiên chủ Đế Thích (Śakra/Indra) đã cung kính dâng lên Đức Thế Tôn một vỏ ốc trắng xoắn về bên phải.

Do nhân duyên ấy, Đức Phật đã gia trì vật này trở thành biểu tượng của việc chuyển bánh xe Chánh pháp của ba thừa, khéo léo tuyên thuyết giáo pháp phù hợp với căn cơ của mọi chúng sinh, không hề sai lạc.

Trong bản văn lại dạy:

Vỏ ốc là biểu tượng của âm thanh tuyên dương Chánh pháp.
Nhờ thanh tịnh như đại dương trí tuệ,
Khéo léo tuyên thuyết tất cả các pháp một cách không sai lầm.
Nguyện nhờ điềm cát tường ấy mà đạt được năng lực tự tại nơi lời nói.


7. Chu sa đỏ (ལི་ཁྲི་)

Vật phẩm thứ bảy là chu sa đỏ (Li-tri).

Nữ thần Địa giới Tenma (một số bản ghi là Bà-la-môn Kar Gyal) đã cung kính dâng chu sa đỏ lên Đức Thế Tôn.

Do nhân duyên ấy, Đức Phật đã gia trì chu sa đỏ trở thành biểu tượng của uy quyền thống nhiếp vương quyền Pháp, làm chủ mọi sự hưng thịnh của thế gian và xuất thế gian.

Trong bản văn lại dạy:

Chu sa đỏ mang bản tính của năng lực nhiếp phục.
Thu nhiếp tất cả các pháp một cách không sai lầm dưới quyền điều phục.
Khiến vương quyền của Chánh pháp luôn luôn bền vững.
Nguyện nhờ điềm cát tường ấy mà quyền lực và sự nghiệp của quý vị được trường tồn.


8. Hạt cải trắng (ཡུངས་དཀར་)

Vật phẩm thứ tám là hạt cải trắng.

Trong Nghi quỹ Trường thọ của Bạch Tara có dạy:

Hạt cải trắng thuộc chủng tộc Kim Cang.
Có năng lực hàng phục mọi ma chướng không còn sót.
Thành tựu đầy đủ sức mạnh và mọi công đức viên mãn.
Nguyện nhờ điềm cát tường ấy mà tất cả chướng ngại đều được tiêu trừ.

Theo truyền thống, Đức Kim Cang Thủ Bồ Tát (Vajrapāṇi) – bậc Chủ tể của Mật giáo – đã cung kính dâng hạt cải trắng lên Đức Thế Tôn.

Do nhân duyên ấy, Đức Phật đã gia trì hạt cải trắng trở thành vật cát tường biểu trưng cho năng lực chiến thắng hoàn toàn mọi ma quân, chướng ngại và các lực cản, đồng thời ban sức mạnh hàng phục tất cả những điều bất thiện.

Vì vậy, cho đến ngày nay, hạt cải trắng vẫn được xem là một vật phẩm cát tường có năng lực gia trì rất lớn. Nương nơi vật này có thể:

  • Thành tựu những lợi ích thù thắng cho chúng sinh chừng nào còn luân hồi.
  • Tiêu trừ mọi duyên nghịch và chướng ngại.
  • Làm tăng trưởng phước đức, sự hưng thịnh của thế gian và xuất thế gian.
  • Khiến người sử dụng được cát tường như chư Phật đã gia trì các vật phẩm ấy thuở xưa.

Vì vậy, nương vào tám vật phẩm cát tường này mà mọi sự đều trở nên tốt lành và viên mãn.

 

Tấm gương sáng trong làm cho trí tuệ như gương hiển lộ viên mãn.
Ghì-wang (Ngưu hoàng) như vị thuốc quý, dập tắt mọi bệnh khổ của phiền não.
Sữa chua tinh túy làm tăng trưởng thần thái và oai lực của các căn.
Cỏ Durva hàng phục mọi sự quấy nhiễu của ma quỷ và tà chướng.
Quả Bilva (Bael) xua tan nỗi khổ của sự đói khát.
Ốc trắng xoắn phải vang lên âm thanh hùng tráng của Chánh pháp.
Chu sa đỏ (Li-tri) có năng lực nhiếp phục và thu phục chúng sinh.
Hạt cải trắng xua đuổi tận gốc mọi ma chướng và chướng ngại.

Theo như bài kệ trên đã trình bày công năng và tác dụng riêng của tám vật phẩm cát tường, thì tám vật phẩm này có khả năng:

  • Làm lắng dịu và tiêu trừ mọi điều bất thuận, mọi chướng ngại.
  • Khiến bốn pháp sự (tức tức – tăng ích – kính ái/nhiếp phục – hàng phục) được thành tựu một cách tự nhiên.
  • Tạo nên nhân duyên cát tường, tăng trưởng thiện lành và phước đức.

Vì lý do đó, từ xưa đến nay có truyền thống vẽ hoặc bày biện hình tượng của tám vật phẩm này trong các pháp hội, đàn tràng và nơi thờ tự như một biểu tượng cát tường.

Tám vật phẩm ấy được biết đến rộng rãi với tên gọi:

"Bát Cát Tường Thượng Phẩm" (Tám vật phẩm cát tường tối thắng).

Đây là một bộ biểu tượng có mối liên hệ mật thiết với Phật pháp, được sử dụng rất phổ biến trong các nghi quỹ, tranh thangka, kiến trúc tự viện và các pháp khí của Phật giáo Tây Tạng.

Đấng Đạo Sư, Thái tử dòng họ Tịnh Phạn (Đức Phật Thích Ca),
Đã gia trì những vật phẩm này trở thành các vật cát tường,
Là cửa ngõ phát sinh mọi điều thiện lành và tốt đẹp.
Nguyện tám vật phẩm cát tường, thành tựu viên mãn nhờ duyên khởi thù thắng,
Ban cho đầy đủ phúc khí, tài lộc, vinh quang và danh tiếng.

Lại nữa, trong Nghi quỹ Thành tựu Mani (Maṇi Drub Choga) có dạy:

Chỉ cần chạm đến, nhìn thấy, nghe tên hoặc nhớ nghĩ đến,
Đều có thể tiêu trừ mọi điều bất tường và ban cho sự viên mãn tối thắng.
Con xin dâng cúng gương, ngưu hoàng (Ghì-wang), cỏ Durva, sữa chua, quả Bilva,
Ốc trắng, chu sa đỏ và hạt cải trắng.

Đó chính là ý nghĩa của Tám Vật Phẩm Cát Tường.

Viết bình luận

Bình luận

Hiện tại bài viết này chưa có bình luận.

Bài viết liên quan:

Lời Giáo Huấn Dài của Potowa

Kính lễ chư Thượng sư của ba đời. Trong đại dương mênh mông của khổ đau luân hồi nơi ba cõi này, từ vô thủy đến nay, ta cứ mãi trôi lăn. Điều ấy là do không nhận ra bản tâm của chính mình. Không nhận ra bản tâm là do bị các chướng ngại che lấp. Các chướng ngại ấy tồn tại là do không biết tích lũy hai tư lương (phước đức và trí tuệ). Không biết tích lũy tư lương là do không có lòng tin (đức tin). Không có lòng tin là do không nhớ nghĩ đến cái chết và vô thường. Nay,...

Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni

Đảnh lễ Đức Phật Đảnh Tôn Thắng (Uṣṇīṣavijayā) Chỉ cần nghe danh hiệu của Ngài, Thì cái chết phi thời được dập tắt; Mọi tội chướng đều được thanh tịnh; Con xin đảnh lễ Đức Phật Đảnh Tôn Thắng. Thuở ấy, tại cõi trời Tam Thập Tam Thiên (Trāyastriṃśa), trước pháp tòa của chư Thiên, có một vị thiên tử tên là Lodrö Tenpa (Bồ-đề dịch nghĩa: Trí Kiên hay Trí Tuệ Kiên Cố). Vị thiên tử ấy đang hưởng thọ mọi dục lạc của cõi trời, sống trong niềm hoan hỷ và an vui. Một đêm nọ, bỗng nghe một âm thanh vô cùng đáng sợ...
Luận Giải “Luyện Tâm Bát Đoạn” – Geshe Ngawang Dhargyey

Luận Giải “Luyện Tâm Bát Đoạn” – Geshe Ngawang Dhargyey

Bối Cảnh Bản văn này được sáng tác trong tám vần kệ của Geshe Langri Tangpa (Langtangpa). Giáo lý này có thể được truy nguyên về chư đạo sư Kadam. Geshe Potowa, một hóa thân của Đức Văn Thù, đã trao truyền nó cho Geshe Sharawa, rồi đến Geshe Langri Tangpa. Hai vị này được gọi là mặt trời và mặt trăng của các đệ tử Kadam.Đó là truyền thống để giải thích tiểu sử ngắn gọn của tác giả, để phát triển tín tâm cho đệ tử, và biểu thị nguồn giáo lý xác thực, nhưng không có thời gian...

Giới thiệu về hai Đại Mandala trong Phật giáo Mật thừa

Mandala, là một hình vẽ biểu thị vũ trụ trong cái nhìn của một bậc giác ngộ. Manda nghĩ là "tinh túy", la là "chứa đựng”. Trong tiếng Phạn, mandala có nghĩa là một trung tâm. Có thể coi mandala là một hình vũ trụ thu nhỏ. "Mandala" dịch nghĩa theo chữ Hán là "luân viên cụ túc" nghĩa là vòng tròn đầy đủ. Theo ý nghĩa thực tiễn thì mandala là đàn tràng để hành giả bày các lễ vật hay pháp khí để thực hành các nghi thức tu tập, cầu nguyện. Với các hành giả Đại thừa,...

Hiểu về Chân lý Cao quý thứ nhất.

Cuộc sống là khổ đau. Sự thật về khổ đau.   Chắc hẳn bạn đã từng nghe những lời dạy của Đức Phật về bản chất của cuộc sống này. Trong hơn một trăm năm qua, phần lớn giáo lý của Đức Phật đã được du nhập vào tư tưởng và văn hóa phương Tây. Biết rằng tất cả giáo lý của Đức Phật đều xoay quanh Tứ Diệu Đế , chúng ta cần phải hiểu đúng ý nghĩa những lời dạy nền tảng của Ngài.   Trong bài thuyết pháp đầu tiên, Đức Phật đã dạy rằng:   Này các tỳ kheo, đây chính là chân lý...

“Cái gì phát sinh rồi cũng phải chấm dứt.”

“Mọi thứ có thể phát sinh đều có thể chấm dứt.” Đây là câu mà Kondanna thốt ra sau khi nghe bài giảng đầu tiên của Đức Phật về Tứ Diệu Đế. Đức Phật đáp lại: “Kondanna hiểu. Kondanna là người hiểu thấu tất cả.” Cuộc đối thoại tưởng chừng không đáng kể này diễn ra ở cuối kinh Dharmachakra-pravartana nhưng nó chỉ ra chính xác điều mà Đức Phật đang cố gắng làm sáng tỏ, đó là trí tuệ về duyên khởi .   Cái gì thay đổi thì vô thường. Cái gì vô thường thì đều phải chịu khổ, hay nỗi đau . Cái gì có điều kiện...

Mọi thứ bên trong mandala đều có mối liên hệ với nhau.

Kyilkhor là từ tiếng Tây Tạng dùng để chỉ mandala. Mandala là sự biểu hiện của bồ đề tâm, tâm thức giác ngộ. Đó là một không gian thiêng liêng đại diện cho những gì chúng ta đang cố gắng thể hiện trong trải nghiệm của mình và trong thế giới xung quanh. Mandala đóng vai trò như một điểm tựa cho người tu tập trên con đường tu tập, hỗ trợ họ trong việc chiêm nghiệm và thiền định. Đó là một cõi thuần khiết, một lĩnh vực trải nghiệm mà người tu tập khao khát giác ngộ chọn làm...
Pháp Khí Mật Tông - Bảo Liên. Cung cấp bởi Sapo.
Lên đầu trang
Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông
Trang chủ Danh mục Liên hệ Tài khoản Giỏ hàng