Mười lời thệ nguyện trong tâm của Khedrup Je

ngài Khedrup Je Gelek Pelzang (Mkhas grub dGe legs dpal bzang) – một trong hai đại đệ tử chính của  Ngài Je Tsongkhapa.

Mười lời thệ nguyện trong tâm của Khedrup Je

Tác giả: Đại luận sư Khedrup Gelek Pelzang

Kính lễ Đức Đạo sư Văn Thù (Namo Guru Mañjughoṣāya).

Con chí thành đảnh lễ và quy y nơi Đạo sư, chư Phật và chư Đại Bồ Tát – những bậc đã viên mãn sức mạnh của đại bi và năng lực của các đại nguyện, đầy đủ tuệ nhãn vô ngại, thấy biết tất cả không chướng ngăn.

Nguyện nhờ oai lực gia trì của chư vị, mọi thiện hạnh mà con phát khởi với tâm nguyện thanh tịnh đều được thành tựu viên mãn, không gặp bất kỳ chướng ngại nào.


Các Ngài, vì hoàn toàn được đại bi chi phối,

không hề nghĩ đến một chút an vui riêng cho bản thân,

mà vì lợi ích của tất cả chúng sinh,

đã dũng mãnh thực hành vô lượng hạnh khó làm, khó nhẫn,

chịu đựng biết bao gian lao không thể nghĩ bàn,

chưa từng sinh tâm mỏi mệt,

cho đến khi viên mãn mọi đại nguyện.

Con xin đảnh lễ các bậc Đạo sư đầy ân đức,

là cội nguồn của mọi điều thiện lành,

cùng chư Phật và chư Đại Bồ Tát.


Trước mặt các Ngài,

ngoài những giới hạn và học xứ mà con đã chân thật thọ nhận

trong ba loại giới luật (giới Biệt giải thoát, giới Bồ Tát và giới Kim Cương thừa),

con còn có thể phát nguyện điều gì khác nữa?

Tuy nhiên,

con là kẻ vẫn còn bị phiền não chi phối,

lại do tập khí phóng dật đã huân tập từ lâu quá mạnh,

nên phần lớn đều thuận theo dòng chảy của những điều sai lầm.

Vì mong tự nhắc nhở để luôn giữ chánh niệm,

không quên chí nguyện của mình,

nên hôm nay,

một lần nữa,

con thỉnh chư Phật, chư Bồ Tát và toàn thể chư Hộ pháp làm chứng,

với lòng quyết tâm mạnh mẽ,

con – vị Tỳ-kheo này –

xin phát nguyện mười điều tâm nguyện sau đây.

Kể từ hôm nay cho đến trọn đời,

dẫu phải hy sinh cả mạng sống,

con cũng quyết không từ bỏ những lời nguyện ấy.

Nếu con vi phạm những điều đã phát nguyện,

xin chư Phật cùng chư Bồ Tát xem con chẳng khác nào một kẻ ngu si như loài súc sinh;

xin các vị Hộ pháp hãy nghiêm khắc trừng tỉnh con,

dẫu phải xé nát trái tim đầy phóng dật của con,

để con không còn dám buông lung và phản bội chí nguyện của mình.

Sau khi bạch trình như vậy, mười lời thệ nguyện được tuyên thuyết như sau:

1. Lời thệ nguyện thứ nhất

Khi không có lý do đặc biệt như vì cần bảo vệ tâm người khác, hoặc trong những trường hợp thật sự cần thiết và có lợi ích theo Chánh pháp,

thì ở bất cứ nơi nào,

ta nguyện sẽ không tham gia, dù chỉ đôi chút, vào những câu chuyện huyên náo của thế gian như:

  • chiến tranh,
  • cướp bóc,
  • chính trị, quyền lực của các bậc vua chúa,
  • cùng mọi loại chuyện tán gẫu làm tâm tán loạn.

Đó là lời thệ nguyện thứ nhất.


2. Lời thệ nguyện thứ hai

Nếu có người do phiền não thúc đẩy,

hoặc do vô minh, thiếu suy xét,

mà tạo nên những lỗi lầm,

thì ngoại trừ trường hợp cần chỉ rõ lỗi ấy bằng lời nói hợp lý,

chỉ với mục đích duy nhất là giúp họ đoạn trừ lỗi lầm và đem lại lợi ích theo Chánh pháp,

ngoài trường hợp ấy,

ta nguyện sẽ không bao giờ nêu đích danh một người khác,

để nói về bất kỳ lỗi lầm nào của họ,

dù là nhỏ nhặt đến đâu,

thuộc thân, khẩu hay ý.

Đó là lời thệ nguyện thứ hai.


3. Lời thệ nguyện thứ ba

Ngoại trừ những trường hợp:

  • bản thân ta hoàn toàn không bị dao động hay khởi phiền não,
  • và việc dùng lời nghiêm khắc ấy chắc chắn đem lại lợi ích cho người khác,

thì đối với:

  • bất kỳ chúng sinh nào,
  • hay ngay cả những đối tượng không phải hữu tình,

ta cũng nguyện không thốt ra dù chỉ một lời thô ác hay cộc cằn.

Đó là lời thệ nguyện thứ ba.

4. Lời thệ nguyện thứ tư

Ngoại trừ khi cần dùng chánh niệmchánh tri để quán sát kỹ lưỡng những vấn đề liên quan đến Chánh pháp,

thì ta nguyện sẽ không để tâm suy nghĩ, dù chỉ trong chốc lát, về những điều như:

  • thân hữu hay người quen,
  • lợi dưỡng và sự cúng dường,
  • các công việc bận rộn của thế gian,
  • lòng tham ái,
  • sân hận,
  • hay bất kỳ đối tượng nào khiến tâm bị ô nhiễm bởi phiền não.

Đó là lời thệ nguyện thứ tư.


5. Lời thệ nguyện thứ năm

Ngoại trừ khi bệnh tật, đi đường hoặc những hoàn cảnh quá mệt mỏi,

thì trong mọi thời gian dành cho việc tu tập thiện pháp,

ta nguyện sẽ không vì:

  • ham ngủ,
  • lười biếng,
  • những câu chuyện tán gẫu vô bổ,
  • ăn uống quá độ,
  • hay bất kỳ việc gì khác

mà cắt ngang sự tu tập,

khi chính ta biết rõ những điều ấy không đem lại lợi ích cho Chánh pháp và chỉ làm tăng trưởng sự biếng nhác.

Ta cũng sẽ không nuông chiều hay dung dưỡng những thói quen ấy, dù chỉ một chút.

Đó là lời thệ nguyện thứ năm.


6. Lời thệ nguyện thứ sáu

Nếu có ai đến xin bất kỳ vật gì thuộc sở hữu của ta,

thì ngoại trừ các trường hợp:

  • việc cho đi sẽ làm tổn hại đến sự tu tập thiện pháp của chính mình,
  • hoặc trở thành chướng ngại đối với sự tăng trưởng công đức,
  • hoặc chắc chắn gây hại cho người nhận,
  • hoặc vật ấy đã được phát nguyện hay dành riêng cho một mục đích thiện lành khác,

ngoài những trường hợp ấy,

bất luận người ta xin vật quý hay vật thường,

ta nguyện sẽ không vì lòng keo kiệt mà từ chối.

Trái lại,

ta sẽ lập tức hoan hỷ bố thí bằng tâm vui vẻ,

rồi hồi hướng công đức ấy đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Đó là lời thệ nguyện thứ sáu.

7. Lời thệ nguyện thứ bảy

Bất cứ khi nào có người gây tổn hại cho:

  • bản thân ta,
  • các bậc thiện tri thức,
  • tài sản,
  • quyến thuộc,
  • người hầu cận,
  • hoặc bất kỳ điều gì thuộc về ta,

dù bằng bất cứ hình thức nào, như:

  • làm hại,
  • nói lời phỉ báng,
  • bới móc lỗi lầm,
  • thậm chí đến mức muốn tước đoạt mạng sống,

thì trước hết,

ta nguyện hết sức ngăn chặn mọi khởi niệm sân hận trong tâm,

không nuôi giữ oán hờn về sau,

đồng thời chế ngự mọi biểu hiện của thân và khẩu,

dù chỉ là những phản ứng nhỏ nhất.

Không những không đáp trả,

mà còn phát khởi tâm nguyện,

bằng mọi phương tiện trực tiếp hay gián tiếp,

tìm cách đem lại lợi ích cho chính người đã làm hại mình,

và chân thành cầu nguyện cho họ.

Đó là lời thệ nguyện thứ bảy.


8. Lời thệ nguyện thứ tám

Đối với mọi vật phẩm có được nhờ:

  • truyền quán đỉnh,
  • truyền khẩu,
  • truyền dạy khẩu quyết,
  • giảng giải Kinh điển và Mật điển,
  • cử hành lễ thất tuần, an vị, hỏa cúng và các pháp sự,
  • hoặc do người khác cúng dường vì kính trọng Chánh pháp,

ngoại trừ:

  • y phục cần thiết để mặc,
  • thức ăn cần dùng ngay,
  • hoặc những vật dụng tối thiểu phục vụ sinh hoạt,

thì bất luận vật phẩm lớn hay nhỏ,

ta nguyện không khởi tâm xem đó là tài sản riêng của mình.

Tất cả sẽ được sử dụng duy nhất như phương tiện để tích lũy công đức và làm lợi ích cho Chánh pháp.

Ngay cả khi bố thí Chánh pháp chỉ bằng một bài kệ bốn câu, ta cũng nguyện luôn thực hiện với Bồ-đề tâm làm động cơ.

Đó là lời thệ nguyện thứ tám.

9. Lời thệ nguyện thứ chín

Ngoại trừ khi cần ngăn chặn những sự hiểu lầm hoặc tà kiến đối với ý nghĩa chân thật của Kinh điển, hoàn toàn vì mục đích hộ trì Giáo pháp,

ta nguyện sẽ không nói dù chỉ một lời chê bai bất kỳ một vị thiện tri thức nào.

Ngược lại,

ta sẽ luôn hoan hỷ ca ngợi những công đức của các bậc thiện tri thức.

Đối với bất kỳ ai,

dù địa vị cao hay thấp,

khi thấy hoặc nghe họ có:

  • sự thành tựu,
  • điều tốt đẹp,
  • hay bất kỳ phẩm chất thiện lành nào phù hợp với Chánh pháp,

ta nguyện sẽ không khởi lên dù chỉ một chút ganh tỵ hay khó chịu.

Ngay lập tức,

ta sẽ chân thành phát khởi niềm hoan hỷ từ tận đáy lòng.

Đó là lời thệ nguyện thứ chín.


10. Lời thệ nguyện thứ mười

Ngoại trừ khi vì:

  • bệnh tật,
  • giặc cướp,
  • hoặc những hoàn cảnh bất khả kháng khác

khiến ta hoàn toàn không thể thực hành,

thì suốt đời, mỗi ngày không được để gián đoạn việc tu tập thiện pháp.

Cụ thể:

  • Thực hành nghi thức phát Bồ-đề tâm ngắn gọn sáu thời trong ngày.
  • Đặc biệt, vào buổi sáng:
    • phát nguyện Bồ-đề tâm,
    • tự thọ trì giới Bồ Tát theo nghi quỹ đầy đủ,
    • quán tu cả Bồ-đề tâm nguyệnBồ-đề tâm hành.
  • Mỗi ngày dành ba hoặc bốn thời để thiền quán các pháp tu ấy,

rồi trong mọi oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi,

luôn duy trì chánh niệmtỉnh giác,

không để tâm buông lung.

Để đối trị sự chấp trước vào luân hồi,

ta sẽ thường xuyên quán chiếu những đề mục thích hợp của người căn cơ nhỏ và căn cơ trung bình,

ba hoặc bốn thời mỗi ngày,

đồng thời luôn duy trì chánh niệm như đã nói ở trên.

Đối với Mật thừa Tối Thượng Du-già,

ta nguyện thực hành đầy đủ pháp quán về Mạn-đà-la, cùng toàn bộ các pháp giai đoạn phát khởigiai đoạn viên mãn, theo bốn thời Du-già mỗi ngày.

Đó là lời thệ nguyện thứ mười.

Lời kết

Mười điều tâm nguyện mà ta vừa phát nguyện này,

không phải vì bị người khác ép buộc,

cũng không phải là những lời nói tùy hứng, không suy xét,

hay những điều dù cố gắng đến đâu cũng không thể thực hiện.

Trái lại,

sau khi tự mình nhiều lần quán xét,

ta thấy rằng:

nếu tinh tấn nỗ lực thì hoàn toàn có thể thực hành được;

và khi thực hành được,

lợi ích đạt được sẽ vô cùng to lớn.

Vì vậy,

với lòng tôn kính chân thành đối với những hạnh nguyện hy hữu của chư vị Bồ Tát – những người con của chư Phật,

ta phát khởi niềm tin sâu xa.

Trước chư Phật, chư Bồ Tát,

và chư Hộ pháp đầy oai lực,

ta xin tuyên thệ những lời nguyện này.

Bởi vậy,

dẫu phải hy sinh cả mạng sống,

ta cũng quyết không từ bỏ gánh nặng của những lời thệ nguyện này.

Không những thế,

ta còn nguyện sẽ tiếp tục tăng trưởng chí nguyện và sự thực hành,

đối với vô lượng hạnh nguyện quảng đại khác của chư Bồ Tát,

vượt xa mười điều được phát nguyện ở đây.

Nguyện nhờ công đức của tất cả thiện hạnh

được gom góp trong ba đời,

mà trong mọi đời vị lai,

ta luôn được những bậc Thiện tri thức tối thắng

nhiếp thọ và dẫn dắt.

Nguyện cho hai phương diện của Bồ-đề tâm

(Bồ-đề tâm nguyện và Bồ-đề tâm hành)

không bao giờ rời xa tâm ta.

Nguyện cho đến tận cùng sinh tử,

ta luôn giữ được ý chí kiên cường không thoái chuyển,

để viên mãn mọi hạnh nguyện rộng lớn của các vị Bồ Tát.

Nguyện cho ta có thể thọ trì trọn vẹn

toàn bộ Chánh pháp của chư Phật,

và được Đức Văn Thù (Jampelyang)

đích thân gia hộ, nhiếp thọ và dẫn dắt.


Lời bạt

Tác phẩm này được ngài Tỳ-kheo đa văn Gelek Pelzang (དགེ་ལེགས་དཔལ་བཟང་པོ།)

phát nguyện và trước tác

tại Đại tự viện Lhajé Ling (Lhas byin gling),

vào ngày mùng 8 tháng đầu mùa xuân (tháng Dwa),

trong năm Mão.

 

Tinh thần của toàn bộ "Mười lời thệ nguyện"

Qua mười lời nguyện, ngài Khedrup Je đã xây dựng một khuôn mẫu tu học rất hoàn chỉnh:

  1. Không nói chuyện thế tục vô ích.
  2. Không nói lỗi người khác.
  3. Không nói lời thô ác.
  4. Không để tâm chạy theo phiền não.
  5. Không buông lung vì giải đãi.
  6. Bố thí không keo tiếc và hồi hướng Bồ-đề.
  7. Lấy từ bi đáp lại mọi tổn hại.
  8. Hoằng pháp và sử dụng cúng dường với tâm thanh tịnh.
  9. Tùy hỷ trước công đức của người khác, không ganh ghét.
  10. Duy trì việc tu tập đều đặn mỗi ngày, không gián đoạn cho đến trọn đời.

Đây không chỉ là những lời phát nguyện cá nhân của ngài Khedrup Je, mà còn là một kim chỉ nam cho đời sống của người xuất gia và hành giả Đại thừa, nhấn mạnh rằng mọi hành động của thân, khẩu và ý đều cần được hướng về Bồ-đề tâm, trí tuệ và lợi ích của tất cả chúng sinh.



Viết bình luận

Bình luận

Hiện tại bài viết này chưa có bình luận.

Bài viết liên quan:

Thủ ấn trong nghi thức tranh biện Phật học Tây Tạng và ý nghĩa biểu trưng của chúng

Trong khi tranh biện, người tranh biện hơi cúi đầu về phía trước. Cử chỉ này biểu thị sự nhận thức rằng nay mình được thọ hưởng và sử dụng một cách tự tại Diệu Pháp sâu xa và quảng đại, kho tàng Chánh pháp vô cùng trân quý mà ngay cả trải qua vô số trăm triệu đại kiếp cũng khó có được cơ duyên chỉ để nghe đến danh xưng của nó. Đồng thời, hành giả ý thức rằng tất cả nhân duyên thù thắng ấy đều xuất phát từ ân đức của vị Đạo sư. Tiếp đó, xâu...

Ngũ Thập Kệ Hộ Trì Giáo Pháp của Đức Phật.

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Chiến Thắng, Đức Sư Tử dòng họ Thích Ca (Śākya). Than ôi! Nay xin nói rằng: Mọi điều an lành và cát tường đều lấy Giáo pháp của Đức Mâu Ni làm nền tảng. Vì vậy, người con Phật cần nỗ lực thực hành để tiếp nối và hộ trì giáo pháp ấy. Khi tinh thông việc nghe học, giảng giải, chánh kiến, thực hành và thiền định, thì trong mọi hiện tượng được thấy, được nghe, người ấy đều nhận biết và quán chiếu theo Chánh pháp. Nếu chỉ chăm chú vào từng phần riêng lẻ của...

Lời Giáo Huấn Dài của Potowa

Kính lễ chư Thượng sư của ba đời. Trong đại dương mênh mông của khổ đau luân hồi nơi ba cõi này, từ vô thủy đến nay, ta cứ mãi trôi lăn. Điều ấy là do không nhận ra bản tâm của chính mình. Không nhận ra bản tâm là do bị các chướng ngại che lấp. Các chướng ngại ấy tồn tại là do không biết tích lũy hai tư lương (phước đức và trí tuệ). Không biết tích lũy tư lương là do không có lòng tin (đức tin). Không có lòng tin là do không nhớ nghĩ đến cái chết và vô thường. Nay,...

"Bát Cát Tường Thượng Phẩm" (Tám vật phẩm cát tường tối thắng).

Trong Nghi quỹ Mạn-đà-la Cửu Đỉnh (Tshug-gu'i Dkyil Chog) có dạy rằng: Hạt cải trắng thành tựu oai lực và năng lực.Cỏ durva thanh tịnh tối thượng.Chu sa có công năng thu nhiếp mọi công đức.Giwang là tinh túy tối thượng của các dược chất.Chiếc gương làm hiển bày rõ mọi ý nghĩa.Ốc trắng thù thắng tuyên dương âm thanh Chánh pháp.Thực phẩm tối thắng (sữa chua) làm tăng thêm dung sắc và oai quang.Quả Bilva làm cho mọi quả lành được chín muồi.Nguyện tất cả những vật phẩm ấy trở thành nhân duyên viên mãn mọi sự thọ dụng. Như lời...

Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni

Đảnh lễ Đức Phật Đảnh Tôn Thắng (Uṣṇīṣavijayā) Chỉ cần nghe danh hiệu của Ngài, Thì cái chết phi thời được dập tắt; Mọi tội chướng đều được thanh tịnh; Con xin đảnh lễ Đức Phật Đảnh Tôn Thắng. Thuở ấy, tại cõi trời Tam Thập Tam Thiên (Trāyastriṃśa), trước pháp tòa của chư Thiên, có một vị thiên tử tên là Lodrö Tenpa (Bồ-đề dịch nghĩa: Trí Kiên hay Trí Tuệ Kiên Cố). Vị thiên tử ấy đang hưởng thọ mọi dục lạc của cõi trời, sống trong niềm hoan hỷ và an vui. Một đêm nọ, bỗng nghe một âm thanh vô cùng đáng sợ...
Luận Giải “Luyện Tâm Bát Đoạn” – Geshe Ngawang Dhargyey

Luận Giải “Luyện Tâm Bát Đoạn” – Geshe Ngawang Dhargyey

Bối Cảnh Bản văn này được sáng tác trong tám vần kệ của Geshe Langri Tangpa (Langtangpa). Giáo lý này có thể được truy nguyên về chư đạo sư Kadam. Geshe Potowa, một hóa thân của Đức Văn Thù, đã trao truyền nó cho Geshe Sharawa, rồi đến Geshe Langri Tangpa. Hai vị này được gọi là mặt trời và mặt trăng của các đệ tử Kadam.Đó là truyền thống để giải thích tiểu sử ngắn gọn của tác giả, để phát triển tín tâm cho đệ tử, và biểu thị nguồn giáo lý xác thực, nhưng không có thời gian...

Giới thiệu về hai Đại Mandala trong Phật giáo Mật thừa

Mandala, là một hình vẽ biểu thị vũ trụ trong cái nhìn của một bậc giác ngộ. Manda nghĩ là "tinh túy", la là "chứa đựng”. Trong tiếng Phạn, mandala có nghĩa là một trung tâm. Có thể coi mandala là một hình vũ trụ thu nhỏ. "Mandala" dịch nghĩa theo chữ Hán là "luân viên cụ túc" nghĩa là vòng tròn đầy đủ. Theo ý nghĩa thực tiễn thì mandala là đàn tràng để hành giả bày các lễ vật hay pháp khí để thực hành các nghi thức tu tập, cầu nguyện. Với các hành giả Đại thừa,...
Pháp Khí Mật Tông - Bảo Liên. Cung cấp bởi Sapo.
Lên đầu trang
Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông
Trang chủ Danh mục Liên hệ Tài khoản Giỏ hàng