Ý nghĩa chắp tay như thế nào?

Người Ấn Độ cho rằng tay phải là tay thần thánh, tay trái là tay bất tịnh. Nhưng nếu 2 tay hiệp lại làm một thì trở thành sự hợp nhất giữa phương diện thánh thiện và nhiễm ô, cho nên hiệp chưởng là biểu hiện bộ mặt chân thật nhất của con người. Nghĩa " Bất cấu bất tịnh " trong Bát Nhã Tâm Kinh chính là ý nầy.

Ý nghĩa chắp tay như thế nào?

 

Hỏi: Tại sao người Phật tử khi tụng kinh lễ bái hoặc chào hỏi nhau lại chắp tay. Vậy xin hỏi ý nghĩa chắp tay như thế nào ?

 

Đáp: Chắp tay, nguyên tiếng Hán Việt là Hiệp chưởng. Tiếng Phạn là Ãnjali. Hiệp chưởng còn gọi là hiệp thập. Theo Từ Điển Phật Học Huệ Quang tập 4 trang 2863 có giải thích như sau: “Chắp 2 bàn tay, tập trung tư tưởng, cung kính lễ bái. Đây là cách lễ bái từ xưa ở Ấn Độ, được Phật giáo thật hành theo.

Người Ấn Độ cho rằng tay phải là tay thần thánh, tay trái là tay bất tịnh. Nhưng nếu 2 tay hiệp lại làm một thì trở thành sự hợp nhất giữa phương diện thánh thiện và nhiễm ô, cho nên hiệp chưởng là biểu hiện bộ mặt chân thật nhất của con người. Nghĩa " Bất cấu bất tịnh " trong Bát Nhã Tâm Kinh chính là ý nầy.

Trong các Kinh Luận có rất nhiều chỗ nói về hiệp chưởng, như Phẩm Phương Tiện Kinh Pháp Hoa (Đại 9,9 Hạ) ghi :" Cung kính hiệp chưởng lễ"; Kinh Quán Vô Lượng Thọ (Đại 12, 345 thượng) ghi: "Hiệp chưởng chắp tay, khen ngợi chư Phật."

Ngoài việc biểu thị ý cung kính trong tâm, hiệp chưởng còn biểu thị ý trở về nguồn cội, đạt đến chỗ phi quyền, phi thật, sự lý khế hợp.

Theo Đại Đường Tây Vực Ký 2, hiệp chưởng là cách thứ tư trong 9 cách lễ ở Ấn Độ.

Mật Giáo phối hợp 2 tay với Kim Cang giới và Thai Tạng giới, hoặc lý và trí, hoặc định và huệ v.v... đồng thời phối hợp 10 ngón với 5 đại, 10 Ba La Mật v.v...

Ngoài ra, Đại Nhật Kinh Sớ 13 có nêu 12 cách hiệp chưởng :

1. Kiên thật tâm hiệp chưởng (hai tay chắp chặt vào nhau các đầu ngón tay bằng nhau).

2. Hư tâm hiệp chưởng, còn gọi không tâm hiệp chưởng (hai tay chắp lại, các đầu ngón tay bằng nhau, hơi rỗng ở giữa).

3. Vị (hai) liên hiệp chưởng (các ngón tay bằng nhau chắp lại, lòng bàn tay phình ra hình hoa sen búp).

4. Sơ các liên hiệp chưởng (chắp tay 2 ngón cái và 2 ngón út dính lại, các ngón kia hở ra, giống như hoa sen hàm tiếu).

5. Hiển lộ hiệp chưởng (hai bàn tay chạm đầu, ngửa lên).

6. Trì thủy hiệp chưởng (hai tay cũng ngửa lên như trước, dáng khum lại như đang vốc nước).

7. Quy mạng hiệp chưởng, còn gọi Kim cang hiệp chưởng (đặt ngón của bàn tay mặt lên trên ngón của bàn tay trái).

8. Phản xoa hiệp chưởng (hai tay chắp ngược đầu nhau đặt tay phải lên tay trái).

9. Phản tịch (bối) hổ tương trước hiệp chưởng (lưng 2 bàn tay đâu nhau, tay phải để ngửa trên lưng bàn tay trái ).

10. Hoành trụ chi hiệp chưởng (hai bàn tay nằm ngửa, đầu 2 ngón trỏ đụng nhau).

11. Phúc thử hướng hạ hiệp chưởng (hai bàn tay nằm úp, đầu 2 ngón trỏ đụng nhau).

12. Phúc thủ hiệp chưởng (hai bàn tay úp xuống hai ngón cái chạm nhau).

{ trích: 100 Câu Hỏi Phật Pháp}

Viết bình luận

Bình luận

Hiện tại bài viết này chưa có bình luận.

Bài viết liên quan:

Hiểu về Chân lý Cao quý thứ nhất.

Cuộc sống là khổ đau. Sự thật về khổ đau.   Chắc hẳn bạn đã từng nghe những lời dạy của Đức Phật về bản chất của cuộc sống này. Trong hơn một trăm năm qua, phần lớn giáo lý của Đức Phật đã được du nhập vào tư tưởng và văn hóa phương Tây. Biết rằng tất cả giáo lý của Đức Phật đều xoay quanh Tứ Diệu Đế , chúng ta cần phải hiểu đúng ý nghĩa những lời dạy nền tảng của Ngài.   Trong bài thuyết pháp đầu tiên, Đức Phật đã dạy rằng:   Này các tỳ kheo, đây chính là chân lý...

“Cái gì phát sinh rồi cũng phải chấm dứt.”

“Mọi thứ có thể phát sinh đều có thể chấm dứt.” Đây là câu mà Kondanna thốt ra sau khi nghe bài giảng đầu tiên của Đức Phật về Tứ Diệu Đế. Đức Phật đáp lại: “Kondanna hiểu. Kondanna là người hiểu thấu tất cả.” Cuộc đối thoại tưởng chừng không đáng kể này diễn ra ở cuối kinh Dharmachakra-pravartana nhưng nó chỉ ra chính xác điều mà Đức Phật đang cố gắng làm sáng tỏ, đó là trí tuệ về duyên khởi .   Cái gì thay đổi thì vô thường. Cái gì vô thường thì đều phải chịu khổ, hay nỗi đau . Cái gì có điều kiện...

Mọi thứ bên trong mandala đều có mối liên hệ với nhau.

Kyilkhor là từ tiếng Tây Tạng dùng để chỉ mandala. Mandala là sự biểu hiện của bồ đề tâm, tâm thức giác ngộ. Đó là một không gian thiêng liêng đại diện cho những gì chúng ta đang cố gắng thể hiện trong trải nghiệm của mình và trong thế giới xung quanh. Mandala đóng vai trò như một điểm tựa cho người tu tập trên con đường tu tập, hỗ trợ họ trong việc chiêm nghiệm và thiền định. Đó là một cõi thuần khiết, một lĩnh vực trải nghiệm mà người tu tập khao khát giác ngộ chọn làm...

Cách thiết lập bàn thờ tại gia

Đối với một Phật tử, việc có một bàn thờ riêng trong nhà là rất có lợi và quan trọng. Nhiều người phương Tây cho rằng việc cúng dường và lập bàn thờ chỉ là vấn đề truyền thống hơn là có liên quan thiết thực đến con đường thiền định của họ. Để có động lực làm điều gì đó, chúng ta cần biết lý do tại sao mình làm điều đó. Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói với đại chúng rằng nếu không cúng dường Tam Bảo mỗi ngày thì giới quy y của người đó...

Các đạo sĩ Tây Tạng – Dòng truyền thừa Ngakpa

Các đạo sĩ Tây Tạng – Dòng truyền thừa Ngakpa Đây là phần giới thiệu về truyền thống của các đạo sĩ Phật giáo, do Pema Khandro biên soạn. Họ còn được biết đến với tên gọi Ngakpas và Naljorpas của Tây Tạng (tiếng Tây Tạng: sngags pa, rnal 'byor pa). Đây là những đạo sĩ Phật giáo Tây Tạng thuộc phái Kim Cương thừa. Giới thiệu về lịch sử các nhà tu khổ hạnh Phật giáo Pema Khandro trong trang phục của một nhà tu khổ hạnh Phật giáo (Ngakpa) Các đạo sĩ Phật giáo (Nakusa) là các tăng sĩ được thụ giới...

“Tóm lược chú giải Bát-nhã Tâm Kinh.”

“Bản chú giải cô đọng về tinh yếu của Trí tuệ (Bát-nhã).” Trí tuệ Bát-nhã Ba-la-mật đa, vượt ngoài nói, nghĩ, diễn đạt. Không sinh, không diệt, bản tính như hư không. Cảnh hành của trí tuệ tự chứng (tự tri riêng biệt). Đảnh lễ Mẹ của chư Phật ba thời. Tadyathā: Oṃ gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā. Bát-nhã Tâm Kinh này là pháp được tụng đọc trong các hội chúng của tất cả tự viện Phật giáo, và cũng có rất nhiều người trì tụng; là điều hiện hữu trong tâm của hết thảy. Lại nữa, khi Đức Thế Tôn nhập vào tam-muội “Hiện quán...

Lợi ích của việc Cúng Khói

Lợi ích của việc Cúng Khói (Sang) “Sangcho” thường được gọi tắt là Sang, nghĩa là cúng dường qua làn khói hương thanh tịnh – hay còn gọi đơn giản là cúng khói. Đây là một thực hành rất phổ biến trong truyền thống Kim Cương thừa. Theo lời khuyên của Phakchok Rinpoche, chúng ta nên thực hành cúng khói thường xuyên vì đây là một phương pháp đơn giản nhưng mang lại nhiều lợi lạc, vừa giúp tích lũy công đức cho bản thân, vừa lợi ích cho nhiều chúng sinh khác. Ở các vùng thánh địa Himalaya, cúng khói không chỉ...

NHỮNG LỢI LẠC CỦA MẬT CHÚ TINH TÚY ĐẠO SƯ THÀNH TỰU

Hum Ở Biên Giới Tây Bắc xứ Orgyen

Được sinh ra trong nhụy một bông hoa sen,

Kỳ Diệu Thay sự thành tựu viên mãn của Ngài

Lừng danh là Đức Liên Hoa Sinh Padmasambhava

Được vây quanh bởi tập hội thánh chúng chư Dakini

Khi con tiếp bước theo sau dấu chân Ngài

Con khẩn cầu Ngài quang lâm và ban những ân phước gia trì

Đức Đạo Sư Liên Hoa Thành Tựu Tâm Phật (Hum)

Mật Chú Tinh Túy Thành Tựu:

Om Ah Hum Benza Guru Pêdma Siddhi Hum

Pháp Khí Mật Tông - Bảo Liên. Cung cấp bởi Sapo.
Lên đầu trang
Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông
Trang chủ Danh mục Liên hệ Tài khoản Giỏ hàng