“Tóm lược chú giải Bát-nhã Tâm Kinh.”

“Bản chú giải cô đọng về tinh yếu của Trí tuệ (Bát-nhã).”

Trí tuệ Bát-nhã Ba-la-mật đa, vượt ngoài nói, nghĩ, diễn đạt.
Không sinh, không diệt, bản tính như hư không.
Cảnh hành của trí tuệ tự chứng (tự tri riêng biệt).
Đảnh lễ Mẹ của chư Phật ba thời.
Tadyathā: Oṃ gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.


Bát-nhã Tâm Kinh này là pháp được tụng đọc trong các hội chúng của tất cả tự viện Phật giáo, và cũng có rất nhiều người trì tụng; là điều hiện hữu trong tâm của hết thảy.

Lại nữa, khi Đức Thế Tôn nhập vào tam-muội “Hiện quán thâm sâu”, và bậc Thánh Quán Tự Tại cũng quán chiếu tính Không, thì những yếu chỉ được trình bày qua cách thức thuyết pháp cho ngài Xá-lợi-phất được tóm lược và biểu thị bằng “tadyathā”.

Bản thể của thân–ngữ–ý, ý nghĩa cứu cánh của “evam”, điều ấy hiện hữu trong phần dẫn nhập của bản văn, được biểu thị bằng “oṃ”.

Từ câu “Xá-lợi-phất, thiện nam tử...” cho đến “hãy quán chiếu như vậy”, ý nghĩa ẩn mật của hai tư lương (tích tập và gia hạnh) được biểu thị bằng “gate gate”.

Từ “năm uẩn...” cho đến “cũng không có cái không đạt được”, con đường kiến đạo được trình bày một cách ẩn mật, được biểu thị bằng “pāragate”.

Tiếp theo, “do vậy...” v.v., con đường tu đạo trong ý nghĩa ẩn mật được biểu thị bằng “pārasaṃgate”.

“Tất cả chư Phật ba thời...” v.v., con đường vô học trong ý nghĩa ẩn mật được biểu thị bằng “bodhi”.

“Svāhā” có nghĩa là “an lập, kiên cố”, tức là làm cho vững chắc.
Nghĩa là, thông qua việc tu tập năm đạo, nhằm thành tựu ý nghĩa biểu trưng ban đầu của “oṃ”:

  • Theo nghĩa phổ thông: an lập nền tảng của tính Không đi cùng đại bi, như câu: “an trụ trong tính Không mà không bỏ rơi chúng sinh”.
  • Theo hệ Mật điển hạ bộ: an lập sự hợp nhất của tính Không (sâu xa) và luân xa của bổn tôn (hiển minh).
  • Theo vô thượng du-già: cần an lập sự bất nhị giữa đại lạc bẩm sinh và tính Không.

Chân ngôn này được gọi là “chân ngôn Ba-la-mật đa của trí tuệ”, “chân ngôn đại minh”, v.v., bởi vì:
nó đưa đến chứng ngộ chân nghĩa tối hậu, đoạn trừ vô minh, không có gì cao hơn về phương diện tri kiến, đưa đến sự bình đẳng như Phật hoặc như hư không, và giải thoát khỏi mọi khổ đau. Vì vậy, từ nhiều phương diện khác nhau, nó đáng được tán dương như một ý nghĩa duy nhất.

Muốn hiểu rộng, nên biết qua tác phẩm “Hiển bày nghĩa ẩn mật” của Gunthang Tenpai Dronme.


Chân ngôn này có ba loại:
chân ngôn tổng trì, chân ngôn bí mật, và chân ngôn trí tuệ.

  • Do phương tiện và trí tuệ mà bảo hộ tâm khỏi các ác đạo → gọi là tổng trì chân ngôn.
  • Do đoạn trừ vô minh và phát sinh trí tuệ → gọi là trí chân ngôn.
  • Do hiển bày bí mật của Như Lai → gọi là mật chân ngôn.

Trong ý nghĩa của Bát-nhã Tâm Kinh, cả ba đều đầy đủ.

Muốn hiểu rộng, nên tham khảo các luận như: “Bồ-tát địa”, “Biện trung biên luận”, “Ý nghĩa của Phật”, “Chuỗi vàng luận giải”.

Bát-nhã Tâm Kinh này trình bày trọn vẹn các giai đoạn của con đường cả Hiển giáo lẫn Mật giáo.


Trích từ lời dạy của Ngawang Nyima (Zur-mkhan ’Bras-sgo Mang-po).


Kinh văn chính

Đảnh lễ Bát-nhã Ba-la-mật đa Tâm Kinh của Đức Thế Tôn.

Bằng tiếng Ấn: Bhagavatī Prajñāpāramitā Hṛdaya.
Bằng tiếng Tạng: Chomden Déma Sherab kyi Pha rol tu phyin pa’i Nyingpo.


Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Thế Tôn trú tại thành Vương Xá, trên núi Linh Thứu, cùng với đại Tỳ-kheo tăng và đại Bồ-tát tăng.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhập vào tam-muội có tên là “Hiện quán thâm sâu”.

Cũng lúc ấy, Bồ-tát Ma-ha-tát Thánh Quán Tự Tại quán chiếu hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật đa, và thấy rõ năm uẩn đều tự tính là Không.

Nhờ oai lực của Phật, tôn giả Xá-lợi-phất thưa với Bồ-tát Quán Tự Tại:

“Thiện nam tử nào muốn thực hành Bát-nhã Ba-la-mật đa thâm sâu, thì nên học như thế nào?”

Bồ-tát Quán Tự Tại trả lời:

“Xá-lợi-phất, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào muốn thực hành Bát-nhã Ba-la-mật đa thâm sâu, thì nên quán chiếu như sau:

Năm uẩn ấy cũng đều phải quán một cách chân chính là tự tính Không.

Sắc là Không. Không cũng chính là sắc.
Không không khác sắc; sắc cũng không khác Không.
Cũng vậy đối với thọ, tưởng, hành, thức.

Xá-lợi-phất, do đó tất cả pháp đều là Không:
không tướng, không sinh, không diệt,
không nhiễm, không ly nhiễm,
không tăng, không giảm.

Do vậy, trong tính Không:
không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức;
không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý;
không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp;
không có giới của mắt cho đến không có giới của ý thức.

Không có vô minh, cũng không có sự diệt tận vô minh;
cho đến không có già chết, cũng không có sự diệt tận già chết.

Không có khổ, tập, diệt, đạo;
không có trí, không có đắc, cũng không có cái không đắc.

Xá-lợi-phất, vì không có sở đắc, nên các Bồ-tát nương vào Bát-nhã Ba-la-mật đa mà an trụ;
tâm không chướng ngại nên không sợ hãi;
xa lìa mọi điên đảo, rốt ráo đạt Niết-bàn.

Chư Phật ba thời cũng nương vào Bát-nhã Ba-la-mật đa mà chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Do đó, nên biết rằng Bát-nhã Ba-la-mật đa là đại minh chú,
là vô thượng chú,
là vô đẳng đẳng chú,
là chú có khả năng trừ diệt mọi khổ đau;
chân thật, không hư dối.

Vì vậy nói chú Bát-nhã Ba-la-mật đa:

Tadyathā:
Oṃ gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.

Xá-lợi-phất, Bồ-tát Ma-ha-tát nên học Bát-nhã Ba-la-mật đa thâm sâu như vậy.”


Sau đó, Đức Thế Tôn xuất định, tán thán Bồ-tát Quán Tự Tại:

“Lành thay! Lành thay!
Thiện nam tử, đúng như vậy!
Đúng như lời ngươi đã giảng,
nên thực hành Bát-nhã Ba-la-mật đa thâm sâu như thế;
chư Như Lai cũng tùy hỷ.”


Khi Đức Thế Tôn nói như vậy,
tôn giả Xá-lợi-phất, Bồ-tát Quán Tự Tại, toàn thể hội chúng, cùng chư thiên, loài người, a-tu-la và thế gian đều hoan hỷ, tán thán lời Phật dạy.


Kinh Đại thừa “Bát-nhã Ba-la-mật đa Tâm Kinh” đến đây viên mãn.

Viết bình luận

Bình luận

Hiện tại bài viết này chưa có bình luận.

Bài viết liên quan:

Hiểu về Chân lý Cao quý thứ nhất.

Cuộc sống là khổ đau. Sự thật về khổ đau.   Chắc hẳn bạn đã từng nghe những lời dạy của Đức Phật về bản chất của cuộc sống này. Trong hơn một trăm năm qua, phần lớn giáo lý của Đức Phật đã được du nhập vào tư tưởng và văn hóa phương Tây. Biết rằng tất cả giáo lý của Đức Phật đều xoay quanh Tứ Diệu Đế , chúng ta cần phải hiểu đúng ý nghĩa những lời dạy nền tảng của Ngài.   Trong bài thuyết pháp đầu tiên, Đức Phật đã dạy rằng:   Này các tỳ kheo, đây chính là chân lý...

“Cái gì phát sinh rồi cũng phải chấm dứt.”

“Mọi thứ có thể phát sinh đều có thể chấm dứt.” Đây là câu mà Kondanna thốt ra sau khi nghe bài giảng đầu tiên của Đức Phật về Tứ Diệu Đế. Đức Phật đáp lại: “Kondanna hiểu. Kondanna là người hiểu thấu tất cả.” Cuộc đối thoại tưởng chừng không đáng kể này diễn ra ở cuối kinh Dharmachakra-pravartana nhưng nó chỉ ra chính xác điều mà Đức Phật đang cố gắng làm sáng tỏ, đó là trí tuệ về duyên khởi .   Cái gì thay đổi thì vô thường. Cái gì vô thường thì đều phải chịu khổ, hay nỗi đau . Cái gì có điều kiện...

Mọi thứ bên trong mandala đều có mối liên hệ với nhau.

Kyilkhor là từ tiếng Tây Tạng dùng để chỉ mandala. Mandala là sự biểu hiện của bồ đề tâm, tâm thức giác ngộ. Đó là một không gian thiêng liêng đại diện cho những gì chúng ta đang cố gắng thể hiện trong trải nghiệm của mình và trong thế giới xung quanh. Mandala đóng vai trò như một điểm tựa cho người tu tập trên con đường tu tập, hỗ trợ họ trong việc chiêm nghiệm và thiền định. Đó là một cõi thuần khiết, một lĩnh vực trải nghiệm mà người tu tập khao khát giác ngộ chọn làm...

Cách thiết lập bàn thờ tại gia

Đối với một Phật tử, việc có một bàn thờ riêng trong nhà là rất có lợi và quan trọng. Nhiều người phương Tây cho rằng việc cúng dường và lập bàn thờ chỉ là vấn đề truyền thống hơn là có liên quan thiết thực đến con đường thiền định của họ. Để có động lực làm điều gì đó, chúng ta cần biết lý do tại sao mình làm điều đó. Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói với đại chúng rằng nếu không cúng dường Tam Bảo mỗi ngày thì giới quy y của người đó...

Các đạo sĩ Tây Tạng – Dòng truyền thừa Ngakpa

Các đạo sĩ Tây Tạng – Dòng truyền thừa Ngakpa Đây là phần giới thiệu về truyền thống của các đạo sĩ Phật giáo, do Pema Khandro biên soạn. Họ còn được biết đến với tên gọi Ngakpas và Naljorpas của Tây Tạng (tiếng Tây Tạng: sngags pa, rnal 'byor pa). Đây là những đạo sĩ Phật giáo Tây Tạng thuộc phái Kim Cương thừa. Giới thiệu về lịch sử các nhà tu khổ hạnh Phật giáo Pema Khandro trong trang phục của một nhà tu khổ hạnh Phật giáo (Ngakpa) Các đạo sĩ Phật giáo (Nakusa) là các tăng sĩ được thụ giới...

Lợi ích của việc Cúng Khói

Lợi ích của việc Cúng Khói (Sang) “Sangcho” thường được gọi tắt là Sang, nghĩa là cúng dường qua làn khói hương thanh tịnh – hay còn gọi đơn giản là cúng khói. Đây là một thực hành rất phổ biến trong truyền thống Kim Cương thừa. Theo lời khuyên của Phakchok Rinpoche, chúng ta nên thực hành cúng khói thường xuyên vì đây là một phương pháp đơn giản nhưng mang lại nhiều lợi lạc, vừa giúp tích lũy công đức cho bản thân, vừa lợi ích cho nhiều chúng sinh khác. Ở các vùng thánh địa Himalaya, cúng khói không chỉ...

NHỮNG LỢI LẠC CỦA MẬT CHÚ TINH TÚY ĐẠO SƯ THÀNH TỰU

Hum Ở Biên Giới Tây Bắc xứ Orgyen

Được sinh ra trong nhụy một bông hoa sen,

Kỳ Diệu Thay sự thành tựu viên mãn của Ngài

Lừng danh là Đức Liên Hoa Sinh Padmasambhava

Được vây quanh bởi tập hội thánh chúng chư Dakini

Khi con tiếp bước theo sau dấu chân Ngài

Con khẩn cầu Ngài quang lâm và ban những ân phước gia trì

Đức Đạo Sư Liên Hoa Thành Tựu Tâm Phật (Hum)

Mật Chú Tinh Túy Thành Tựu:

Om Ah Hum Benza Guru Pêdma Siddhi Hum

Pháp Khí Mật Tông - Bảo Liên. Cung cấp bởi Sapo.
Lên đầu trang
Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông
Trang chủ Danh mục Liên hệ Tài khoản Giỏ hàng