Ý nghĩ của việc cúng dường đèn bơ

Chúng ta ở cõi Ta Bà, nhiều kiếp bị vô minh che lấp trí tuệ, nên như Kinh Hoa Nghiêm đã nói “Đèn trí tuệ có thể soi sáng các sự tăm tối”. Vậy ngọn đèn chúng ta thắp lên dâng cúng chư Phật là ngọn đèn trí tuệ. Nhờ oai lực của chư Phật mà ánh sáng từ ngọn đèn này phá tan sự mờ tối của chúng sinh và thế giới đen tối trong tâm thức chúng ta.

Cúng dường đèn

Cúng dường đèn (đăng) nói chung hay đèn bơ nói riêng là một trong những pháp tu cúng dường quan trọng trong nghi thức hành trì Phât pháp.

Vì sao vậy? 

Chúng ta ở cõi Ta Bà, nhiều kiếp bị vô minh che lấp trí tuệ, nên như Kinh Hoa Nghiêm đã nói “Đèn trí tuệ có thể soi sáng các sự tăm tối”. Vậy ngọn đèn chúng ta thắp lên dâng cúng chư Phật là ngọn đèn trí tuệ. Nhờ oai lực của chư Phật mà ánh sáng từ ngọn đèn này phá tan sự mờ tối của chúng sinh và thế giới đen tối trong tâm thức chúng ta.

Thí Đăng Công Đức Kinh đã nói: “Thường ở trước tượng Phật, tự viện, kiền thành mà thắp đèn cúng Phật thì được tăng trưởng phước báu như đôi mắt và tứ chi tốt đẹp, thân không bệnh tật, tâm địa sáng suốt, không bị lay chuyển bởi ngu si, tâm không sợ hãi, cuộc sống an ổn,…". Vậy thắp đèn giúp chúng ta tăng trưởng công đức, từ đó khai mở trí tuệ. Chúng ta ắt hẳn vẫn còn nhớ Kinh Nhân Quả có dạy kiếp trước thắp đèn dâng cúng Phật, kiếp này thông minh lỗi lạc, trí tuệ như đuốc, còn nhớ chăng?

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy 10 lợi ích của việc cúng dường ánh sáng trong Kinh Phạm Âm:
1. Trở thành ngọn đèn của pháp giới;
2. Có huệ nhãn thanh tịnh nhìn thấy các cảnh giới vô hình ngay trong thân người;
3. Thành tựu thiên nhãn thông;
4. Đạt được trí tuệ thấu suốt thiện pháp và bất thiện pháp;
5. Loại trừ tâm bám chấp vào sắc tướng; 
6. Luôn sống trong ánh sáng trí tuệ;
7. Có được tái sinh trong thân người hay chư thiên;
8. Vui hưởng cuộc sống giàu sang phú quý;
9. Sớm được giải thoát;
10. Chóng đạt giác ngộ. 

Đối với Phật giáo Kim Cương thừa, ngọn đèn bơ là ngọn đèn thiêng liêng bậc nhất và không bao giờ tắt trong các Tu viện Mật giáo.

Cúng dường đèn bơ là cúng dường mãnh liệt nhất bởi lẽ ánh sáng của chúng tượng trưng cho trí tuệ. Ngay khi ngọn đèn xua tan bóng tối, ánh sáng của ngọn đèn biểu hiện sự tan biến của bóng tối vô minh và chứng đắc trí tuệ sáng suốt của Phật. Dâng cúng đèn là cúng dường tính thấy lên mắt Phật. Vì mắt Phật là mắt trí tuệ, nên chúng không có sự đối nghịch của sáng hay tối. Mắt thường của chúng ta, dù sao đi nữa vẫn bị che lấp bởi bóng tối của hai bất tịnh – Một bất tịnh thô là cảm xúc phiền não (ngã chấp) và một bất tịnh vi tế là sở tri chướng (pháp chấp). Phật không có tâm mong cầu đối với mọi món dâng cúng, nhưng chúng ta cúng dường để tích lũy công đức và trí tuệ cho chính mình. Nhờ năng lực của tích lũy này, chúng ta có thể loại trừ mọi bất toàn của đôi mắt vô minh của mình và đạt đến tuệ nhãn toàn giác của Phật.

Khi chúng ta cúng dường ánh sáng, kết quả của nó là sự chứng ngộ trí tuệ Tịnh quang trong đời này; xóa sạch tâm phân biệt, dẹp tan sự rối loạn và nhận ra Tịnh quang trong cõi Bardo (thân Trung ấm); và tăng trưởng trí tuệ trong mỗi đời sống cho đến khi đạt được giác ngộ. 

Đèn bơ cũng được cúng dường và hồi hướng cho người đã mất để dẫn họ đi trong Bardo bởi ánh sáng trí tuệ. Chúng ta cũng cầu nguyện rằng ánh sáng này sẽ soi đường cho toàn thể chúng sinh trong sáu cõi, tịnh hóa mọi che chướng của họ để họ có thể đánh thức tuệ giác chân thật của chính mình. Với niềm tin và lòng sùng kính chân thành, hãy quán tưởng rằng vô số thiên nữ cúng dường sẽ dâng cúng vô lượng ánh sáng đến toàn thể chư Phật, Bồ Tát và Thánh chúng. Chúng ta có thể đọc tụng bài cúng đèn trong tuyển tập các bài Cầu nguyện cúng dường. 

Theo truyền thống Phật giáo Kim Cương thừa, chúng ta tích lũy công đức để tạo ra những hoàn cảnh thuận lợi trước mắt như sức khỏe, giàu sang và trường thọ và sâu xa hơn là hiển lộ bản tính trí tuệ của chính chúng ta. 

Trong tất cả các phương pháp tích lũy công đức nhờ bố thí, cúng dường đèn bơ chỉ đứng ngay sau cúng dường Tsok.

Nếu bạn cúng dường đúng cách, thậm chí chỉ một ngọn đèn, thì công đức vô cùng lớn lao như Đức Phật đã nói với ngài Xá Lợi Phất trong kinh “Những lợi ích của cúng dàng đèn”, đó là vượt qua sự tính toán của toàn thể các bậc Thanh Văn và Duyên Giác, công đức có được là không thể tính đếm, chỉ các bậc Như Lai mới biết rõ tường tận:
"Vào thời Đức Phật, vua A Xà Thế có lần đã cúng dường nhiều thùng dầu để đốt đèn dâng cúng Đức Phật ở Tịnh xá Kỳ Hoàn. Có một bà già rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền. Bà thấy vua A Xà Thế làm công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích. Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu. Chủ hàng hỏi: “Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?”. Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ở đời gặp Đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh đời Phật, mà chưa có dịp cúng dường. Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau”. Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong cho thêm ba tiền thành ra năm tiền dầu. Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng: "Con không có gì cúng dâng Phật, ngoại trừ cây đèn nhỏ này. Nhưng do sự cúng dường này, mong cho con đời sau có trí tuệ. Mong cho con giải thoát tất cả hữu tình ra khỏi bóng tối ngu si. Mong cho con tịnh hóa tất cả những cấu uế chướng ngại của họ, và đưa họ đến giải thoát". Đêm ấy tất cả các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn đỏ. Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao. Khi tôn giả Mục Kiền Liên đi thu lại những cây đèn. Khi trông thấy ngọn đèn còn cháy sáng, đầy dầu và bấc mới, ngài nghĩ: “Không lý gì để cho cây đèn này vẫn cháy vào ban ngày” và Ngài cố thổi tắt. Nhưng cây đèn vẫn cháy. Ngài lấy tay bóp, lấy y chụp lên cho nó tắt, mà nó vẫn tiếp tục cháy sáng. Đức Phật vẫn nhìn Ngài từ lúc đầu, và bảo: "Mục Kiền Liên, có phải ông muốn dập tắt ngọn đèn ấy không? Ông không làm được đâu. Ông không di chuyển được nó, chứ đừng nói là dập cho nó tắt. Nếu ông đem được bốn biển mà tưới lên cây đèn này, nó vẫn không tắt được, tại sao? Vì cây đèn này đã được đốt lên để dâng cúng với tất cả niềm sùng kính, và với tâm trí thanh tịnh. Chính động cơ ấy đã làm cho nó có công đức vô cùng".

Nội dung trên không phải là tất cả, nhưng đủ để hành giả chúng ta thấy được, trong Hương - Hoa - Đăng thì Đăng chiếm một vị trí quan trọng thế nào.

Viết bình luận

Bình luận

Hiện tại bài viết này chưa có bình luận.

Bài viết liên quan:

Hiểu về Chân lý Cao quý thứ nhất.

Cuộc sống là khổ đau. Sự thật về khổ đau.   Chắc hẳn bạn đã từng nghe những lời dạy của Đức Phật về bản chất của cuộc sống này. Trong hơn một trăm năm qua, phần lớn giáo lý của Đức Phật đã được du nhập vào tư tưởng và văn hóa phương Tây. Biết rằng tất cả giáo lý của Đức Phật đều xoay quanh Tứ Diệu Đế , chúng ta cần phải hiểu đúng ý nghĩa những lời dạy nền tảng của Ngài.   Trong bài thuyết pháp đầu tiên, Đức Phật đã dạy rằng:   Này các tỳ kheo, đây chính là chân lý...

“Cái gì phát sinh rồi cũng phải chấm dứt.”

“Mọi thứ có thể phát sinh đều có thể chấm dứt.” Đây là câu mà Kondanna thốt ra sau khi nghe bài giảng đầu tiên của Đức Phật về Tứ Diệu Đế. Đức Phật đáp lại: “Kondanna hiểu. Kondanna là người hiểu thấu tất cả.” Cuộc đối thoại tưởng chừng không đáng kể này diễn ra ở cuối kinh Dharmachakra-pravartana nhưng nó chỉ ra chính xác điều mà Đức Phật đang cố gắng làm sáng tỏ, đó là trí tuệ về duyên khởi .   Cái gì thay đổi thì vô thường. Cái gì vô thường thì đều phải chịu khổ, hay nỗi đau . Cái gì có điều kiện...

Mọi thứ bên trong mandala đều có mối liên hệ với nhau.

Kyilkhor là từ tiếng Tây Tạng dùng để chỉ mandala. Mandala là sự biểu hiện của bồ đề tâm, tâm thức giác ngộ. Đó là một không gian thiêng liêng đại diện cho những gì chúng ta đang cố gắng thể hiện trong trải nghiệm của mình và trong thế giới xung quanh. Mandala đóng vai trò như một điểm tựa cho người tu tập trên con đường tu tập, hỗ trợ họ trong việc chiêm nghiệm và thiền định. Đó là một cõi thuần khiết, một lĩnh vực trải nghiệm mà người tu tập khao khát giác ngộ chọn làm...

Cách thiết lập bàn thờ tại gia

Đối với một Phật tử, việc có một bàn thờ riêng trong nhà là rất có lợi và quan trọng. Nhiều người phương Tây cho rằng việc cúng dường và lập bàn thờ chỉ là vấn đề truyền thống hơn là có liên quan thiết thực đến con đường thiền định của họ. Để có động lực làm điều gì đó, chúng ta cần biết lý do tại sao mình làm điều đó. Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói với đại chúng rằng nếu không cúng dường Tam Bảo mỗi ngày thì giới quy y của người đó...

Các đạo sĩ Tây Tạng – Dòng truyền thừa Ngakpa

Các đạo sĩ Tây Tạng – Dòng truyền thừa Ngakpa Đây là phần giới thiệu về truyền thống của các đạo sĩ Phật giáo, do Pema Khandro biên soạn. Họ còn được biết đến với tên gọi Ngakpas và Naljorpas của Tây Tạng (tiếng Tây Tạng: sngags pa, rnal 'byor pa). Đây là những đạo sĩ Phật giáo Tây Tạng thuộc phái Kim Cương thừa. Giới thiệu về lịch sử các nhà tu khổ hạnh Phật giáo Pema Khandro trong trang phục của một nhà tu khổ hạnh Phật giáo (Ngakpa) Các đạo sĩ Phật giáo (Nakusa) là các tăng sĩ được thụ giới...

“Tóm lược chú giải Bát-nhã Tâm Kinh.”

“Bản chú giải cô đọng về tinh yếu của Trí tuệ (Bát-nhã).” Trí tuệ Bát-nhã Ba-la-mật đa, vượt ngoài nói, nghĩ, diễn đạt. Không sinh, không diệt, bản tính như hư không. Cảnh hành của trí tuệ tự chứng (tự tri riêng biệt). Đảnh lễ Mẹ của chư Phật ba thời. Tadyathā: Oṃ gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā. Bát-nhã Tâm Kinh này là pháp được tụng đọc trong các hội chúng của tất cả tự viện Phật giáo, và cũng có rất nhiều người trì tụng; là điều hiện hữu trong tâm của hết thảy. Lại nữa, khi Đức Thế Tôn nhập vào tam-muội “Hiện quán...

Lợi ích của việc Cúng Khói

Lợi ích của việc Cúng Khói (Sang) “Sangcho” thường được gọi tắt là Sang, nghĩa là cúng dường qua làn khói hương thanh tịnh – hay còn gọi đơn giản là cúng khói. Đây là một thực hành rất phổ biến trong truyền thống Kim Cương thừa. Theo lời khuyên của Phakchok Rinpoche, chúng ta nên thực hành cúng khói thường xuyên vì đây là một phương pháp đơn giản nhưng mang lại nhiều lợi lạc, vừa giúp tích lũy công đức cho bản thân, vừa lợi ích cho nhiều chúng sinh khác. Ở các vùng thánh địa Himalaya, cúng khói không chỉ...

NHỮNG LỢI LẠC CỦA MẬT CHÚ TINH TÚY ĐẠO SƯ THÀNH TỰU

Hum Ở Biên Giới Tây Bắc xứ Orgyen

Được sinh ra trong nhụy một bông hoa sen,

Kỳ Diệu Thay sự thành tựu viên mãn của Ngài

Lừng danh là Đức Liên Hoa Sinh Padmasambhava

Được vây quanh bởi tập hội thánh chúng chư Dakini

Khi con tiếp bước theo sau dấu chân Ngài

Con khẩn cầu Ngài quang lâm và ban những ân phước gia trì

Đức Đạo Sư Liên Hoa Thành Tựu Tâm Phật (Hum)

Mật Chú Tinh Túy Thành Tựu:

Om Ah Hum Benza Guru Pêdma Siddhi Hum

Pháp Khí Mật Tông - Bảo Liên. Cung cấp bởi Sapo.
Lên đầu trang
Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông
Trang chủ Danh mục Liên hệ Tài khoản Giỏ hàng