Thân Kim Cương

Theo thuật ngữ tiếng Phạn, “Kim Cương” có nghĩa là bất hoại, đầy uy lực và rực rỡ, giống như viên kim cương không thể bị cắt rời hoặc bị phá vỡ. Trong tự nhiên, kim cương toản thạch là một loại đá quý cứng nhất, cho nên người ta thường dùng kim cương để so sánh với việc không thể phân tách. Trong tiếng Phạn, thân Kim Cương được gọi là "Vajra-saôhatana-kàya", nghĩa là “Kim Cương bất hoại thân”

Thân Kim Cương

Theo thuật ngữ tiếng Phạn, “Kim Cương” có nghĩa là bất hoại, đầy uy lực và rực rỡ, giống như viên kim cương không thể bị cắt rời hoặc bị phá vỡ. Trong tự nhiên, kim cương toản thạch là một loại đá quý cứng nhất, cho nên người ta thường dùng kim cương để so sánh với việc không thể phân tách. Trong tiếng Phạn, thân Kim Cương được gọi là "Vajra-saôhatana-kàya", nghĩa là “Kim Cương bất hoại thân”. Kinh Đại bảo tích quyển 52 (Đại 52, 37 trung), nói: “Thân Như Lai tức là Pháp thân, thân Kim Cương là thân bền chắc không hư hoại. Nghĩa là Pháp thân của Như Lai được ví như kim cương, không thể hư nát”.

Kim cương tương ứng với thân thể con người có những ý nghĩa sau:

1. Thịt da và tinh thần không phân ly. Nếu thịt da và tinh thần phân tách, người nhất định sẽ chết.

2. Từ bi và trí tuệ không thể phân ly, trí và bi phải kết hợp như kim cương.

3. Ý thức của cơ thể và khí huyết của một con người không thể phân tách.

Ở cấp độ thô lậu, thân được làm bằng đất, nước, gió, lửa như máu, thịt, da, xương, ngũ quan,... Tương ứng với đó là tâm thô lậu ở mức độ nhận thức của năm giác quan mang tính thô lậu, hạn chế về sự vật hiện tượng.

Ở cấp độ vi tế, thân vi tế chính là thân Kim Cương bao gồm các kinh mạch, khí năng lượng và các giọt tinh chất (hay còn gọi là minh điểm) tồn tại ở trong các kinh mạch. Sau khi đã thành thục thực hành nhuần nhuyễn nền tảng Phật pháp, các pháp tu mở đầu, tịnh hóa và tích lũy công đức ở giai đoạn "phát khởi", đến giai đoạn "thành tựu" là giai đoạn mà hành giả mới được phép thụ nhận các Mật pháp, mới được tìm hiểu thêm và thực hành trên thân vi tế hay thân Kim Cương.

1. Kinh mạch: Những kinh mạch chính được sử dụng trong thiền định là kinh mạch trung ương chạy dọc cột sống và hai đường kinh mạch phụ chạy hai bên kinh mạch trung ương. Dọc theo kinh mạch trung ương có 6 luân xa chính, từ mỗi luân xa trong số này tỏa ra 72.000 kinh mạch nhỏ chạy khắp cơ thể chúng ta.

2. Khí: Khí mà chúng ta đang bàn đến không dùng để chỉ đến không khí bên ngoài chúng ta hít thở mà đó là khí vi tế chảy xuyên qua các kinh mạch của chúng ta. Có hai loại khí chính là khí nâng đỡ tứ đại (thô lậu và vi tế) giúp cho thân chúng ta hoạt động; và khí nâng đỡ cảm xúc nghĩa là khí liên hệ với các cấp độ khác nhau của tâm thức. Nguyên lý Mật thừa dạy rằng: “Tâm dựa trên khí”, điều này có nghĩa là tâm chúng ta thì dựa vào các khí và các khí luôn dịch chuyển cùng tâm. Tâm và khí luôn dịch chuyển cùng nhau qua các kinh mạch vi tế.

3. Minh điểm: Thân Kim Cương của chúng ta bao gồm các năng lượng lỏng vi tế đó là giọt đỏ và giọt trắng. Các Tantra cũng nhắc tới các giọt này là tinh chất Bồ đề tâm Đỏ (tựa mặt trời) và Trắng (tựa mặt trăng). Mặc dù những giọt Trắng và Đỏ luôn ở cùng nhau trong mọi kinh mạch nhưng giọt Đỏ năng lượng âm (năng lượng Mẫu tính) thì chi phối tại luân xa rốn và giọt Trắng (năng lượng Phụ tính) thì mạnh mẽ tại luân xa đỉnh đầu.

Như vậy, dưới góc độ của Mật thừa, Kim Cương thể là thể tối mật, chúng ta có thể thấy da thịt trên cơ thể nếu bị phân tán, thô ráp, người đó sẽ chết. Nhưng Kim Cương thân là thứ không biết được bắt đầu từ đâu và không bao giờ mất đi.

Khí là thể, thần là dụng, thần khí hợp nhất được gọi là Kim Cương thể, là nhân tố để chuyển thế. Trên cơ thể con người có 10 loại khí, có một loại rất vi diệu, thứ nhìn mà không thấy. Khi mỗi cơ thể hoạt động, Kim Cương thể được tồn tại trong mạch, rất nhỏ mà mắt người không nhìn thấy được. Nó ở trạng thái tiềm ẩn, không thể hiện rõ tác dụng. Khi khí bên ngoài đứt đoạn, tác dụng của các bộ phận mất đi, Kim Cương thể mới phát huy tác dụng, cũng chính là nói giai đoạn Trung ấm xuất hiện là thân Trung ấm 

Viết bình luận

Bình luận

Hiện tại bài viết này chưa có bình luận.

Bài viết liên quan:

Thủ ấn trong nghi thức tranh biện Phật học Tây Tạng và ý nghĩa biểu trưng của chúng

Các thủ ấn được sử dụng trong khi lập luận và tranh biện cùng ý nghĩa biểu trưng của chúng

Thủ ấn trong khi tranh biện và ý nghĩa biểu trưng

Trong lúc tiến hành tranh biện, người tranh biện hơi cúi đầu về phía trước. Điều này biểu trưng cho sự nhận thức rằng: nay mình được tự do thọ hưởng kho tàng Diệu Pháp sâu xa và quảng đại, vô cùng trân quý — giáo pháp mà dù trải qua hàng trăm triệu đại kiếp cũng khó có được cơ hội chỉ nghe đến tên gọi — và hiểu rằng tất cả đều là nhờ ân đức của vị Đạo sư (Thượng sư).

Tiếp đó, xâu chuỗi được gấp làm đôi rồi quấn quanh ngón cái của bàn tay trái. Hành động này tượng trưng rằng tất cả chúng sinh, bao gồm chính bản thân mình, từ vô thủy đến nay đều bị chấp ngã trói buộc trong vực sâu của luân hồi sinh tử.

Sau đó, dùng ngón cái hất xâu chuỗi lên phía trên. Cử chỉ này biểu thị rằng nhờ tự thân gìn giữ giới luật thanh tịnh, tôn kính thiện tri thức như đỉnh đầu, đồng thời tinh tấn thực hành ba môn văn, tư và tu, cùng mọi thiện hạnh khác theo khả năng của mình, nên cuối cùng bản thân và tất cả chúng sinh — những người mẹ già đã từng là mẹ của mình trong vô lượng đời — đều được giải thoát khỏi sự trói buộc của ngã chấp, vốn là nguyên nhân giam cầm chúng sinh trong vòng luân hồi.

Pháp Khí Mật Tông - Bảo Liên. Cung cấp bởi Sapo.
Lên đầu trang
Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông Pháp Khí Mật Tông
Trang chủ Danh mục Liên hệ Tài khoản Giỏ hàng